Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh và ông Đỗ Trọng Thực

Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024/TLST - HS ngày 20/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST - HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:

Trần Thị Thanh D, sinh ngày 10/01/2005

Nơi sinh, cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Thị L; chồng: Không có, con: Có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2024, tạm giam ngày 29/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • - Chị Đinh Thị H, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện G, Thành phố Hà Nội.
  • - Anh Nông Thành L1, sinh năm: 2003 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
  • - Chị Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm: 2002 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Thanh D, sinh năm 10/01/2005 ở thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa, không có công ăn việc làm. Khoảng cuối tháng 5 năm 2021, D đến địa bàn huyện V chơi và ở nhà trọ tại số nhà A, phố D, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, cùng với bạn là chị Đinh Thị H, sinh năm 1996 ở thôn D, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; anh Nông Thành L1, sinh năm 2003 ở thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn và chị Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 2002 ở khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Do không có tiền tiêu sài, D đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 02/6/2021, D quan sát thấy chị Nguyễn Thị Mỹ P, chị Đinh Thị H và anh Nông Thành L1 đã ngủ say và để điện thoại ở bên cạnh người, D đã lén lút lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng và 01 túi xách nữ giả da màu trắng, bên trong túi xách đựng số tiền 400.000 đồng của chị P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng-xám và lấy chìa khoá xe đạp điện nhãn hiệu 133S, màu sơn đen của chị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng-vàng của anh L1. Sau đó, D cho tất cả điện thoại vừa lấy được vào trong túi xách và đi xuống dưới nhà, dắt chiếc xe đạp điện nhãn hiệu 133S, màu sơn đen của chị H ra ngoài rồi điều khiển xe đạp điện đi dọc theo đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đến địa phận tỉnh Hải Dương. Trên đường đi, D thấy có một quán sửa chữa xe đạp, xe máy của một người đàn ông khoảng 60 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) thì D đi vào và bán chiếc xe đạp điện, người này đồng ý mua xe với giá 800.000 đồng. D đã tiêu sài hết số tiền 400.000 đồng trộm cắp được của chị P và số tiền 800.000 đồng bán xe đạp điện, sau đó bỏ trốn.

Sau khi phát hiện mất tài sản, các chị Đinh Thị H, Nguyễn Thị Mỹ P và anh Nông Thành L1 có đơn gửi Công an xã T đề nghị giải quyết theo quy định. Sau đó, Công an xã T đã bàn giao hồ sơ vụ án đến Cơ quan điều tra Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.

Đến ngày 04/6/2021, D đến Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và giao nộp: 01 túi xách nữ giả da màu trắng, 03 điện thoại di động (01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng-xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng-vàng). Ngày 05/6/2021, Công an phường T thông báo cho Cơ quan điều tra Công an huyện V đến tiếp nhận đối tượng Trần Thị Thanh D. Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện V đến Công an phường T nhưng D đang trong diện cách ly tập trung theo Quyết định số 3907/QĐ-BCĐ của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc phê duyệt danh sách người được cách ly Y tế tập trung để phòng, chống dịch bệnh Covid 19 (địa điểm cách ly: Trung tâm G, Trường Đại học H2, địa chỉ: phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; thời gian cách ly là 21 ngày) nên Cơ quan điều tra Công an huyện V không tiếp xúc, làm việc và không thực hiện được việc tiếp nhận đối tượng D đưa về Công an huyện V để làm việc. Tại buổi làm việc, Công an phường T đã bàn giao hồ sơ tiếp nhận D ra đầu thú và các tài sản, vật chứng liên quan cho Cơ quan điều tra Công an huyện V.

Sau thời gian cách ly tập trung 21 ngày, D chấp hành xong thời gian cách ly nhưng Công an phường T chưa thực hiện bàn giao đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thì D đã được thả ra khỏi khu cách ly tập trung rồi D tiếp tục bỏ trốn.

Ngày 30/6/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện V ra Thông báo truy tìm Trần Thị Thanh D. Đến ngày 05/10/2021, do chưa tìm được Diệu nên Cơ quan điều tra Công an huyện V ra Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin số 21 đối với vụ việc trên. Ngày 06/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V ra Quyết định phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 717. Ngày 06/6/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và Quyết định truy nã đối với D. Đến ngày 26/7/2024, D bị bắt theo Quyết định truy nã số 1312 ngày 28/7/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện V.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 114 ngày 02/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện V, kết luận:

  • - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng-xám, số Imei 359228069186959, ốp lưng bằng nhựa màu hồng, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 02/6/2021 có giá trị là 1.000.000 đồng;
  • - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng-vàng, số Imei 353310073961860, ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 02/6/2021 có giá trị là 1.600.000 đồng;
  • - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số Imei 356733082140555, ốp lưng bằng nhựa màu vàng, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 02/6/2021 có giá trị là 4.000.000 đồng;
  • - 01 Túi xách nữ giả da màu trắng viền đen, có quai đeo, khuy khóa bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 02/6/2021 có giá trị là 20.000 đồng;

Tổng giá trị các tài sản trên là 6.620.000 đồng.

- 01 xe đạp điện nhãn hiệu 133S, màu sơn đen, mua sử dụng từ năm 2019. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng không xem xét tiến hành định giá do chưa thu giữ được, không có hồ sơ chứng từ kèm theo nên không có cơ sở để xem xét tiến hành định giá.

Ngày 05/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng-xám, số Imei 359228069186959, ốp lưng bằng nhựa màu hồng, đã qua sử dụng cho chị Đinh Thị H; trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng-vàng, số Imei 353310073961860, ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng cho anh Nông Thành L1; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số Imei 356733082140555, ốp lưng bằng nhựa màu vàng, đã qua sử dụng và 01 túi xách nữ giả da màu trắng viền đen, có quai đeo, khuy khóa bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng cho chị Nguyễn Thị Mỹ P. Chị P và anh L1 đã nhận tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Còn chị H yêu cầu D phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng đối với xe đạp điện nhãn hiệu 133S, màu sơn đen mà D đã bán. D đồng ý với yêu cầu của chị H nhưng hiện tại chưa bồi thường gì cho chị H.

Đối với người đàn ông không rõ tên, địa chỉ D khai đã mua chiếc xe đạp điện mà D trộm cắp được, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ giải quyết sau.

Quá trình điều tra, Trần Thị Thanh D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của D phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 103/CT-VKSVL ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Trần Thị Thanh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thanh D phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h,i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thanh D từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Trần Thị Thanh D phải bồi thường cho chị Đinh Thị H số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Truy thu của bị cáo Trần Thị Thanh D số tiền 400.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị Thanh D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

Bị cáo nghe rõ, nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm. Bị cáo không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện V và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâmvà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng; Biên bản vụ việc, biên bản khám xét; Kết luận định giá tài sản cùng các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 02 giờ ngày 02/6/2021, tại số nhà A, phố D, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Trần Thị Thanh D đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng; 01 túi xách nữ giả da màu trắng và số tiền 400.000 đồng của chị Nguyễn Thị Mỹ P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng-xám và 01 xe đạp điện nhãn hiệu 133S, màu sơn đen của chị Đinh Thị H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng-vàng của anh Nông Thành L1, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.020.000 đồng, sau đó D bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan điều tra Công an huyện V.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, buộc phải nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi của bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản giá trị dưới 50.000.000 đồng đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Trong quá trình điều tra, bị cáo ra đầu thú nhưng sau đó đã bỏ trốn và bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xét đến bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng “Nguyên tắc xử lý đối với người đưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 101 bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:

Đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu 133S, màu sơn đen Diệu chiếm đoạt của chị Đinh Thị H, bị cáo bán chiếc xe đạp điện ở cửa hàng sửa chữa xe đạp, xe máy của người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra chưa xác định được người đàn ông này nên chưa thu giữ được chiếc xe đạp điện, chị H yêu cầu D phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho chị H số tiền nêu trên nên buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Đinh Thị H số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo lấy trộm của chị Nguyễn Thị Mỹ P, bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết nên sẽ truy thu của bị cáo số tiền này sung quỹ Nhà nước.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Thị Thanh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thanh D phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

[2]. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

[3]. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thanh D 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/7/2024.

[4] Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Truy thu của bị cáo Trần Thị Thanh D số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.

Buộc bị cáo Trần Thị Thanh D phải bồi thường cho chị Đinh Thị H số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Thị Thanh D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án, người được thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân, Công an huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Diệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger