Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 28-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh và ông Lê Đình Khôi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê T – sinh năm 1970, tại Gia Lai

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1935; Có vợ là Trần Thị H1 – sinh năm 1975; Có 04 (Bốn) con, lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  2. Cao Dứt A (Tên gọi khác: Năm Dứt) – sinh năm 1969, tại Trà Vinh

    Hộ khẩu thường trú: Khóm A, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Có vợ là Phạm Thị H2 – sinh năm 1968; Có 03 (Ba) con, lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  3. Nguyễn Hữu T1 (Tên gọi khác: Tám Thủy) – sinh năm 1972, tại Tiền Giang

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc H3 – sinh năm 1937 và bà Tô Thị C (đã chết); Có vợ là Huỳnh Thị Kim P – sinh năm 1972; Có 05 (Năm) con, lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  4. Lương Hoàng T2 (Tên gọi khác: Sáu T3) – sinh năm 1961, tại Tiền Giang

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị V – sinh năm 1969; Có 03 (Ba) con, lớn nhất sinh năm 1989 và nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  5. Lưu Anh M – sinh năm 1980, tại Ninh Bình

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Đình H4 – sinh năm 1954 và bà Vũ Thị Hồng N1 – sinh năm 1955; Có vợ là Nguyễn Thị L2 – sinh năm 1991; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  6. Nguyễn Văn N2 – sinh năm 1971, tại Thanh Hóa

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q – sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị H5 (đã chết); Có vợ là Dương Thị H6 – sinh năm 1975; Có 05 (Năm) con, lớn nhất sinh năm 1994 và nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  7. Hà Vinh Q1 – sinh năm 1974, tại Đồng Nai

    Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn T4 – sinh năm 1942 và bà Phạm Thị H7 (đã chết); Có vợ là Nguyễn Tuyết P1 – sinh năm 1975; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 2006 và nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  8. Lưu Xuân T5 (Tên gọi khác: Tiến Núi) – sinh năm 1975, tại Vĩnh Phúc

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn T6 – sinh năm 1931 và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị D – sinh năm 1983; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  9. Lương Hoàng T7 – sinh năm 1967, tại Tiền Giang

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); Có vợ là Phạm Thị M1 – sinh năm 1971; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  10. Lê Ngọc L3 – sinh năm 1963, tại Thanh Hóa

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ngọc T8 (đã chết) và bà Trần Thị C1 (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Phương T9 – sinh năm 1964; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  11. Nguyễn Văn B (Tên gọi khác: Ba B1) – sinh năm 1951, tại Tiền Giang

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V1 (đã chết) và bà Huỳnh Thị C2 (đã chết); Có vợ là Lữ Thị Ngọc T10 – sinh năm 1952; Có 04 (Bốn) con, lớn nhất sinh năm 1976 và nhỏ nhất sinh năm 1981; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

  12. Triệu Minh D1 (Tên gọi khác: Vinh Mập) – sinh năm 1987, tại Đồng Nai

    Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu T11 – sinh năm 1928 và bà Nguyễn Thị Đ1 – sinh năm 1930; Có vợ là Phan Thị Hồng P2 – sinh năm 1984; Có 03 (Ba) con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M2 – sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 20 ngày 15/01/2024, tại nhà ông Nguyễn Văn M2 thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với Công an xã P phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2, Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền. Tang vật thu giữ:

  • Tại chiếu bạc chơi tiến lên: Thu trên chiếu bạc 640.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái bàn, 05 cái ghế. Thu trên người các đối tượng số tiền: Lê Thảo 750.000 đồng, Cao Dứt A 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu T1 1.000.000 đồng, Lương Hoàng T2 1.300.000 đồng. Ngoài ra thu giữ 04 chiếc điện thoại di động các loại.
  • Tại chiếu bạc chơi bài binh xập xám: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.550.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái bàn, 05 cái ghế. Thu trên người các đối tượng số tiền: Lưu Anh M 3.000.000 đồng, Nguyễn Văn N2 1.600.000 đồng, Lưu Xuân T5 10.000 đồng, Lương Hoàng T7 11.400.000 đồng, Lê Ngọc L3 220.000 đồng, Nguyễn Văn B 2.500.000 đồng. Ngoài ra thu giữ 03 xe mô tô và 07 chiếc điện thoại di động các loại.

Quá trình điều tra đã làm rõ được: Buổi tối ngày 15/01/2024, Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2, Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 đến nhà ông Nguyễn Văn M2 để đi ăn tiệc đám cưới con ông M2. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi tham gia xong tiệc đám cưới thì các bị can tự rủ nhau đánh bạc, sử dụng bàn ghế có sẵn tại đám tiệc rồi chia thành 02 chiếu bạc như sau:

  • Tại chiếu bạc thứ nhất gồm có: Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2 chơi đánh bạc bằng hình thức tiến lên thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi đánh bạc như sau: Sử dụng bộ bài tây 52 lá chia làm 04 tụ, mỗi tụ 13 lá bài, ván bài đầu tiên ai có lá bài ba bích sẽ đánh trước. Trong bài tiến lên được chia làm các loại: bài lẻ gồm một lá, đôi, ba lá và bốn lá (tứ quý), sảnh gồm ít nhất 3 lá liên tiếp nhau, 03 – 05 đôi thông. Người chơi sẽ đánh các lá bài theo chiều quy ước. Ai hết toàn bộ các lá bài đầu tiên là về nhất, tiếp theo là về nhì, ba và cuối. Cả nhóm quy ước tỉ lệ thắng thua: Ai về cuối thì đưa cho người về nhất 40.000 đồng, về ba đưa cho người về nhì 20.000 đồng, chặt heo hoặc thối heo (lá bài số 2) thì đối với lá 2 đỏ thì phải trả 40.000 đồng, nếu lá 2 đen thì trả 20.000 đồng, bị bắt 03 đôi thông thì mất 60.000 đồng, tứ quý thì mất 80.000 đồng. Khi ai đánh hết bài trên tay mà chưa có ai đánh được lá bài nào thì tính là “chết trắng” và mất số tiền 80.000 đồng. Cả nhóm chơi đánh bạc từ 20 giờ đến 22 giờ 20 phút thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Quá trình điều tra xác định số tiền sử dụng đánh bạc như sau: Lê T sử dụng 950.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 750.000 đồng. Cao Dứt A sử dụng 4.200.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 4.000.000 đồng; Nguyễn Hữu T1 sử dụng 1.640.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 1.000.000 đồng; Lương Hoàng T2 sử dụng số tiền 900.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 1.300.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2 sử dụng để đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài tiến lên vào ngày 15/01/2024 là 7.690.000 đồng. Trong đó gồm số tiền 640.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 7.050.000 thu giữ trên người các bị can chứng minh được sử dụng vào mục đích đánh bạc.

  • Tại chiếu bạc thứ hai gồm có: Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà V, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài binh xập xám. Khi chơi cả nhóm chia làm 04 tụ chính, trong đó: Nguyễn Văn N2, Lương Hoàng T7, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 mỗi người chơi một tụ, còn Lưu Anh M, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lê Ngọc L3 tham gia ké bài với các tụ chính và thắng thua trực tiếp với người làm cái, các tụ thay nhau làm cái xoay tua.

Hình thức chơi như sau: Người làm cái sử dụng bộ bài tây 52 lá chia làm 04 tụ, mỗi tụ 13 lá bài. Người chơi sắp xếp 13 lá bài thành 03 chi, chi thứ nhất 05 lá bài, chi thứ hai 05 lá bài, chi thứ ba gồm 03 lá bài, sắp xếp các lá bài thành bộ, sao cho chi thứ nhất lớn hơn chi thứ 2, chi thứ 2 lớn hơn chi thứ 3, Mỗi người chơi sắp xếp thành các chi khác nhau, độ lớn của các chi được sắp xếp theo thứ tự tăng dần: Thứ tự từ nhỏ đến lớn tại bài binh xập xám như sau: nhỏ nhất là mậu thầu (các lá bài lẻ trong chi), đôi (có 02 lá bài giống nhau), thú (có 02 đôi), xám chi (03 lá bài giống nhau), sảnh (05 lá bài theo thứ tự liên tiếp và không đồng chất), thùng (05 lá bài cùng chất, không cùng thứ tự), cù lũ (gồm 03 lá bài giống nhau và 01 đôi), thùng phá sảnh (gồm 05 lá bài theo thứ tự liên tiếp và đồng chất). Sau khi sắp xếp bài xong, người chơi sẽ so sánh chi với người chơi làm cái, nếu có 02 chi trở lên lớn hơn người làm cái thì thắng, ngược lại thì thua. Trong bài mậu binh chỉ xét độ lớn, không xét chất của lá bài các tụ con so sánh bài với tụ cái để xác định thắng thua; quy ước mức tiền cá cược 01 ván là từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, trực tiếp thắng thua với người làm cái.

Đến 22 giờ 20 phút cùng ngày, khi Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.

Quá trình điều tra xác định số tiền sử dụng đánh bạc như sau: Lưu Anh M mang theo số tiền 3.600.000 đồng, sử dụng 2.500.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 3.000.000 đồng (trong đó có 1.100.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc); Nguyễn Văn N2 sử dụng 2.800.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ 1.600.000 đồng. Lưu Xuân T5 sử dụng 1.560.000 đồng, bắt quả tang thu giữ 10.000 đồng; Lương Hoàng T7 sử dụng 3.000.000 đồng, bắt quả tang thu giữ 11.400.000 đồng (trong đó có 8.000.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc); Lê Ngọc L3 sử dụng 820.000 đồng, bắt quả tang thu giữ 220.000 đồng; Nguyễn Văn B sử dụng 4.000.000 đồng, bắt quả tang thu giữ 2.500.000 đồng; Triệu Minh D1 sử dụng 2.500.000 đồng, bắt quả tang thu giữ 1.500.000 đồng; Hà Vinh Q1 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng, lúc bắt quả tang để lại trên chiếu bạc.

Như vậy, tổng số tiền Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 dùng vào mục đích đánh bạc là 18.680.000 đồng, trong đó gồm số tiền 7.550.000 đồng thu tại chiếu bạc và số tiền 11.130.000 đồng thu giữ của Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 chứng minh được sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Theo Cáo trạng số 69/CT-VKSTP-ĐN ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Truy tố các bị cáo Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2, Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” với mức án:

Bị cáo Lê T từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Bị cáo Cao Dứt A từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Nguyễn Hữu T1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Bị cáo Lương Hoàng T2 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Bị cáo Lưu Anh M từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Nguyễn Văn N2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Lưu Xuân T5 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Bị cáo H8 Vinh Quang từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Bị cáo Lương Hoàng T7 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Lê Ngọc L3 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Bị cáo Nguyễn Văn B từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Triệu Minh D1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Về biện pháp tư pháp: Đối với 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 26.370.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc đề nghị tuyên nộp sung công quỹ Nhà nước; đối với tài sản, đồ vật, tài liệu khác không liên quan đến tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu nên không đề nghị xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào lúc 22 giờ 20 phút ngày 15/01/2024, tại nhà ông Nguyễn Văn M2 thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2 có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài tiến lên với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 7.690.000 đồng; Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền hình thức chơi bài binh xập xám với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 18.680.000 đồng.

Hành vi của Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2, Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra còn xem xét các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo M hiện đang nuôi con nhỏ. Các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn đánh bạc diễn ra ngày càng phức tạp và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, đã thực hiện hành vi đánh bạc bất hợp pháp.

Đối với hành vi đánh bạc, đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng người đồng phạm, số tiền đánh bạc của từng bị cáo nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình như sau:

Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và đều có vai trò là người thực hành; số tiền các bị cáo A (4.200.000 đồng), B (4.000.000 đồng), M (3.600.000 đồng) sử dụng đánh bạc là cao nhất, các bị cáo T7 (3.000.000 đồng), N2 (2.800.000 đồng), D1 (2.500.000 đồng) sử dụng đánh bạc là cao hơn các bị cáo còn lại. Vì vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo A, B, M là cao hơn các bị cáo T7, N2, D1 và cao hơn bị cáo còn lại.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét các bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 26.370.000 đồng là công cụ và phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với tài sản, đồ vật, tài liệu khác (số tiền 1.100.000 đồng của Lưu Anh M, số tiền 8.000.000 đồng của Lương Hoàng T7; 02 cái bàn và 10 cái ghế của ông Nguyễn Văn M2; 11 điện thoại di động và 04 xe mô các loại) không liên quan đến tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Văn M2 không biết việc các bị cáo sử dụng nhà mình để đánh bạc, cũng không thu tiền xâu nên không có căn cứ xử lý hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 321; Khoản 1 Điều 46, Điều 47; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê T, Cao Dứt A, Nguyễn Hữu T1, Lương Hoàng T2, Lưu Anh M, Nguyễn Văn N2, Lưu Xuân T5, Hà Vinh Q1, Lương Hoàng T7, Lê Ngọc L3, Nguyễn Văn B, Triệu Minh D1 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Xử phạt bị cáo Lê Thảo 2 (Hai mươi triệu đồng).
  2. Xử phạt bị cáo Cao Dứt A 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
  4. Xử phạt bị cáo Lương Hoàng T2 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
  5. Xử phạt bị cáo Lưu Anh M 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N2 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
  7. Xử phạt bị cáo Lưu Xuân T5 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
  8. Xử phạt bị cáo Hà Vinh Q1 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
  9. Xử phạt bị cáo Lương Hoàng T7 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).
  10. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L3 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
  11. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
  12. Xử phạt bị cáo Triệu Minh D1 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

2. Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy đối với 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền 26.370.000đ (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005560 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • Công an huyện Tân Phú;
  • Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.1. Xử phạt bị cáo Lê T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). 1.2. Xử phạt bị cáo Cao Dứt A 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). 1.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). 1.4. Xử phạt bị cáo Lương Hoàng T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). 1.5. Xử phạt bị cáo Lưu Anh M 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). 1.6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). 1.7. Xử phạt bị cáo Lưu Xuân T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). 1.8. Xử phạt bị cáo Hà Vinh Q 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). 1.9. Xử phạt bị cáo Lương Hoàng T 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). 1.10. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). 1.11. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). 1.12. Xử phạt bị cáo Triệu Minh D 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger