Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-7-2024

V/v: Ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Đang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thái Sơn.
  2. Ông Lê Phú Chánh Thể.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bình Nguyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm C khai vụ án thụ lý số: 219/2024/TLST-HNGĐ ngày 3 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2024/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 154/2024/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Minh Q, sinh năm: 1976.

    Địa chỉ: ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1969.

    Địa chỉ: ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, bà Q, ông C vắng mặt (bà Q có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Võ Thị Minh Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Văn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/11/2002. Bà và ông C chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên bà và ông Phong đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

Về con chung: trong quá trình chung sống, bà và ông C có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Khải, sinh ngày 04/8/1998 và Nguyễn Hoàng Kha, sinh ngày 12/9/2004, hiện đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Q khai không có.

Do bận C việc nên bà không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án, bà có yêu cầu Tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt bà.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, C khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: bà Võ Thị Minh Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Q, ông C.
  2. [2] Về nội dung vụ án:
    1. [2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Q và ông C chung sống trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/11/2002 nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bà Q cho rằng trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà Q nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông C được nữa nên bà có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

      Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo các phiên hòa giải với mục đích là hòa giải cho bà Q và ông C đoàn tụ nhưng ông C đều vắng mặt. Như vậy, tuy biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng ông C đã bỏ mặc không tham gia, không cùng cải thiện tình trạng hôn nhân của ông và bà Q. Mặc khác, bà Q và ông C đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay thì ông bà không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau như vợ như chồng, không có thời gian đoàn tụ. Điều này chứng tỏ, tình trạng hôn nhân của bà Q và ông C đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Q là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    2. [2.2] Về con chung: bà Q và ông C có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Khải, sinh ngày 04/8/1998 và Nguyễn Hoàng Kha, sinh ngày 12/9/2004, hiện đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    3. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà Q khai không có.
  3. [3] Về án phí: bà Q phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Minh Q. Bà Võ Thị Minh Q được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
  2. Về con chung: ghi nhận bà Võ Thị Minh Q và ông Nguyễn Văn C có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Khải, sinh ngày 04/8/1998 và Nguyễn Hoàng Kha, sinh ngày 12/9/2004, hiện đã thành niên.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Võ Thị Minh Q khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Võ Thị Minh Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005012 ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; bà Q đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thuận Điền;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Đang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về tài sản chung và nợ chung: bà Q khai không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger