|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 112/2024/HSST Ngày: 13-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Ông Lê Quang Bảo
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị B; sinh năm 1974; giới tính: Nữ; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú: số C đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; cư trú: số 7B ba tầng số B P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Dương Vi N (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); có chồng Trần Văn T và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2017, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18-01-2024, chuyển tạm giam ngày 25-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh Q (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 18-01-2024, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường T - G, thuộc phường V, thành phố N phát hiện Dương Thị B điều khiển xe máy biển kiểm soát 29AA – 624.13 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong cổ tay áo khoác bên phải B đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M1); thu giữ trong quần lót phía sau B đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (4,5 x9)cm, bên trong có 22 gói giấy mặt ngoài đều màu trắng, mặt trong đều màu vàng, trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 gói nilong màu trắng, bên trong có 03 gói giấy mặt ngoài đều màu trắng, mặt trong đều màu vàng, trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M2). B khai là 26 gói Heroine mua về để bán kiếm lời. Ngoài ra, tạm giữ của B 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 29AA - 624.13; 01 chiếc điện thoại di động màu xanh đen mặt sau có chữ S, 01 chiếc điện thoại di động màu xanh mặt sau có chữ S và 01 chiếc điện thoại di động màu đen, đều đã cũ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã khám xét nơi thường trú của Dương Thị B tại địa chỉ số nhà C đường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của B tại địa chỉ số nhà G, 3 tầng số B đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định thu giữ trong thùng giấy màu xanh trắng, kích thước (27x30x50) cm để ở góc nhà phía bên phải hướng từ cửa vào,có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L, bên trong có 01 túi nilong màu trắng, kích thước (7x11) cm, trong đựng 97 gói giấy mặt ngoài đều màu trắng, mặt trong đều màu vàng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký kiệu K1). B khai là 97 gói Heroine mua về để bán kiếm lời.
Bản kết luận giám định số 344/KL-KTHS ngày 22-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 03 phong bì thư, được niêm phong ký hiệu M1, M2 và K1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M1 : 0,104 gam. Tổng khối lượng mẫu M2: 1,703 gam. Tổng khối lượng mẫu K1: 6,742 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Thị B khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 17-01-2024, B đi bộ ra khu G, phường T, thành phố N gặp một người đàn ông (không biết lai lịch, địa chỉ) mua 01 túi Heroine với giá 3.000.000 đồng. B mang túi Heroine về nhà chia thành 123 gói nhỏ, mục đích bán 80.000đồng/01 gói Heroine (nếu bán hết số Heroine sẽ được 9.840.000 đồng, lãi 6.840.000 đồng). B cho 26 gói Heroine cho vào 01 túi nilong màu trắng, kích thước (4,5 x 9) cm cất vào trong túi áo khoác đang mặc, còn 97 gói Heroine Bình cho vào 01 túi nilong màu trắng, kích thước (7x11) cm bỏ vào trong bao thuốc lá Thăng L, rồi cho vào trong thùng giấy màu xanh để ở góc nhà phía bên phải từ cửa vào. Đến tối cùng ngày, B đi về địa chỉ C đường T, phường V, thành phố N và mang theo 01 túi nilong có chứa 26 gói Heroine để ở trong túi áo khoác B mặc. Khoảng 07 giờ sáng ngày 18-01-2024, B lấy ra 04 gói Heroine, 01 gói Bình gói bằng mảnh giấy màu trắng cất vào trong cổ tay áo khoác bên phải B đang mặc, còn 03 gói B lấy mảnh nilong màu trắng gói lại, rồilại bỏ vào trong túi nilongmàu trắng trước đó có chứa 22 gói Heroine còn lại. Sau đó B lấy mảnh giấy màu trắng gói túi nilong có chứa 25 gói Heroine lại cất vào trong quần lót phía sau B đang mặc, rồi điều khiển xe máy mang số Heroine đi bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 109/CT-VKSND-TPNĐ ngày 16-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Dương Thị B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Dương Thị B khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy mục đích để bán kiếm lời như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Dương Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Dương Thị B từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ lời khai của bị cáo Dương Thị B trong quá trình điều tra và tại phiên toà, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 344/ KLKTHS ngày 22-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 18-01-2024, tại khu vực ngã tư đường T - G, thuộc phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định, Dương Thị B đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,807 gam Heroine để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Thị B tại địa chỉ số nhà G, 3 tầng số B đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N thu giữ 6,742 gam Heroine của Dương Thị B cất giấu để bán kiếm lời. Tổng khối lượng là 8,549 gam Heroine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Dương Thị B đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm mua bán, lưu hành; Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa thu lợi được từ việc bán ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm mua bán, lưu hành và một vỏ bao thuốc lá Thăng Long không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Một chiếc điện thoại di động màu xanh đen đã cũ, mặt sau có chữ Sam sung, một chiếc điện thoại di động màu xanh đã cũ mặt sau có chữ S, một chiếc điện thoại di động màu đen đã cũ mặt sau có chữ S là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án
[6] Chiếc xe máy biển kiểm soát 29AA- 624.13 là tài sản của ông Trần Văn T (chồng B), ông T không biết B mượn xe mang ma túy đi bán nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho ông T là đúng quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo Dương Thị B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Dương Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Thị B năm tháng ( năm tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 18-01-2024. - Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 344/KLKTHS ngày 22-01-2024 và một vỏ bao thuốc lá T.
- Trả lại cho bị cáo một chiếc điện thoại di động màu xanh đen đã cũ, mặt sau có chữ Sam sung, một chiếc điện thoại di động màu xanh đã cũ mặt sau có chữ S, một chiếc điện thoại di động màu đen đã cũ mặt sau có chữ S nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án
(chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 19-4-2024).
- Án phí: Bị cáo Dương Thị B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Dương Thị B được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tống Thị Kim Phượng |
Bản án số 112/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 112/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội tàng trữ ma túy
