TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2023/HS-ST Ngày 29-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Nhàn
2. Ông Nguyễn Tất Quang
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
- Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1992, tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1959 và con bà Hoàng Thị C, sinh năm 1963; Vợ: Lê Thị H, sinh năm 1994; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
· Người bị hại: bà Nguyễn Thị M, sinh ngày 10/12/1963
Nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đã chết
- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: ông Phan Bá T1, sinh năm 1961. Có mặt
Anh Phan Bá K, sinh năm 1995, anh Phan Bá C1, sinh năm 1997. Vắng mặt
Đều cư trú: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
- Người đại diện theo ủy quyền cho ông Phan Bá T1, anh Phan Bá K, anh Phan Bá C1: ông Nguyễn Thế Q1, sinh năm 1960. Có mặt
Nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Đình A, sinh năm 1988; Nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
+ Anh Nguyễn Bá T2, sinh năm 1973; Nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
+ Anh Nguyễn Bá T3, sinh năm 1975; Nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Người tham gia tố tụng khác: không
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ ngày 23 tháng 09 năm 2023, Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/7/1992, trú tại xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có giấy phép lái xe hạng FC, số giấy phép 3310155009853 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 17 tháng 04 năm 2023 điều khiển xe ô tô tải có mui biển kiểm soát 37C-308.79 di chuyển từ xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An để đi đổ hàng tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An theo đường Quốc lộ 15 rồi rẽ đi đường Quốc lộ 46, trên xe chở theo anh Lê Đình A, sinh năm 1988, trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Anh Nguyễn Bá T2, sinh năm 1973 và Nguyễn Bá T3, sinh năm 1975, cùng trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày 23/9/2023 khi Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô đi đến Km 57+270m Quốc lộ D thuộc địa phận xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An do bị ngủ gật, không chú ý quan sát phía trước, không làm chủ được tay lái, khi giật mình tỉnh dậy, T thấy xe ô tô do T điều khiển đã di chuyển lấn sang làn đường ngược chiều, đồng thời từ khoảng cách khoảng 4mét bị cáo T thấy bà Trần Thị M1, sinh ngày 10/12/1963, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An điều khiển xe đạp đi ngược chiều phía trước. Thấy vậy, T liền đạp mạnh phanh nhưng do khoảng cách gần nên phanh không kịp và ngay sau đó xẩy ra va chạm giao thông, cụ thể: Phần đầu bên trái xe ô tô đâm vào phía trước xe đạp, làm xe đạp và bà M1 bị văng ngã xuống đất. Sau đó, T liền xuống xe kiểm tra thấy bà M1 bị chảy máu ở miệng, vẫn còn thở nên T gọi mọi người xung quanh đưa bà M1 đi cấp cứu tại Bệnh viên đa khoa huyện Đ nhưng bà M1 đã tử vong ngay sau đó.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- - Hiện trường xẩy ra nơi tai nạn là đoạn đường km57+270 Quốc lộ D thuộc xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng rộng 7,1m chạy theo hướng Bắc – N, hướng B đi thị trấn Đ, phía Nam đi huyện T. Ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng chia đường thành hai làn hai chiều xe chạy, làn phía Tây rộng 3,5m, dọc hai bên là lề đường hẹp 0,2m, tiếp theo là mương, vỉa hè và nhà dân. Đường thẳng, không dốc, tầm nhìn không bị hạn chế.
- - Lấy cột mốc số H3/57 ở vỉa hè phía Đông đường Quốc lộ 46 làm mốc, lấy đường kẻ nối chính giữa các vạch kẻ đường làm chuẩn. Đo phương pháp vuông góc.
- - Vết phanh dạng trượt màu đen gồm 02 vết song song nhau có kích thước dài 16,8m, rộng 0,52m, gần cuối vết có 04 đường vết phanh chỗ rộng nhất 0,73m, nằm ở trên mặt đường nhựa làn đường phía Đông, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách đường chuẩn là 0,7m và 1,4m về phía Đông, điểm đầu cách mốc 23,5m về phía Nam, vết có chiều hướng Bắc-N. (Vị trí số 1)
- - Vùng vết phanh dạng trượt màu đen không liên tục trên làn đường phía Đông có chiều hướng Bắc – N, kích thước (14,3x0,5)m, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách đường chuẩn về phía Đông là 2,65m và 3,75m, điểm đầu cách mốc về phía Nam 24,65m. (Vị trí số 2).
- - Xe đạp (dáng mini) màu sơn đỏ ngã nghiêng bên phải trên vỉa hè phía Đông, đầu xe hướng phía Bắc hơi chếch Đông Bắc, đuôi xe hướng phía Nam, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau lần lượt cách đường chuẩn về phía Đông là 5,05 và 4,45, tâm trục bánh trước cách điểm đầu vết phanh vị trí số 2 là 23,5m về phía Nam. Phía N và phía Đông vị trí ngã của xe đạp là hàng hóa (bao tải, lạc, túi nilong, ghế gỗ, nón...) và vết máu nhỏ giọt kích thước (70x10)cm trên vùng (1,9x1,9)m. Về phía Bắc của xe đạp và sát mép đường phía Đ là vị trí rơi của 02 chiếc dép nhựa màu xanh. (Vị trí số 3).
- - Xe ô tô tải biểm kiểm soát 37C-308.79 dừng đỗ ở trên làn đường phía Tây, đầu xe hướng Nam, đuôi xe hướng Bắc, tâm trục bánh trước bên trái và tâm trục bánh sau cùng bên trái lần lượt cách đường chuẩn về phía Tây là 1,17m và 0,95m, tâm trục bánh sau cùng bên trái cách tâm trục bánh trước xe đạp màu đỏ là 36,4m về phía Nam. (Vị trí số 4).
- - Vết phanh dạng trượt màu đen trên làn đường phía Tây có chiều hướng Bắc – N, kích thước (5,1x0,1)m, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách đường chuẩn là 0,12m và 0,4m về phía Tây, điểm đầu cách tâm trục bánh trước xe đạp là 16,8m về phía Nam. (Vị trí số 5)
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79:
Cản trước làm bằng nhựa màu xanh dương nhạt, phía bên trái của cản trước có:
- - 01 (một) vùng móp lõm chiều hướng trước ra sau kích thước (60x20)cm, cao cách mặt đất 58cm. Trên vùng này có: 01 (một) vết nứt rách nhựa kích thước (21x20)cm chiều hướng từ trước ra sau, cách mép thân bên trái của xe 40cm, cách mặt mặt đất 58cm, giá treo bên trái cản trước bằng kim loại tương ứng vị trí này bị cong chiều hướng trước ra sau, dưới lên trên; 01 (một) vết trượt bám chất màu đen dạng vân song song kích thước (18x3)cm, cao cách mặt đất 58cm, chiều hướng từ trước ra sau vị trí mép trên của vị trí nứt nhựa đi sang bên trái; 01 (một) vết cà trượt sơn nhựa kích thước (6,5x3)cm, cao cách mặt đất 61cm, chiều hướng từ dưới lên trên rồi phải sang trái.
- - Góc dưới trước cản trước có 01 vết cà trượt sơn nhựa kích thước (2x1)cm chiều hướng trước ra sau, phải sang trái cao cách mặt đất 64cm.
- - Ngay phía trên vị trí rách nhựa cản trước, góc dưới trái mặt ca lăng dưới và góc dưới phải ốp nhựa quanh đèn pha sương trước bên trái có vùng trượt nhựa bám chất màu đen song song nhau chiều hướng từ trên xuống dưới và chếch phải qua trái về các vết cà xước sơn nhựa màu xanh dương nhạt, kích thước vùng (24x21)cm, cao cách mặt đất 72cm.
- - Cách thẳng trên vị trí rách nhựa cản trước 46cm là vị trí móp lõm mép dưới trái mặt ca lăng trên và mép trên trái mặt ca lăng dưới, kích thước (20x18)cm, chiều hướng trước ra sau, cao cách mặt đất 118cm.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp:
- - Hai trục kim loại của khung xe nối giữa cổ phuộc và trục yên xe bị cong gập chiều hướng trước ra sau làm toàn bộ phía trước xe bị hạ xuống.
- - Nửa bên trái trục tay lái bị cong lệch tạo góc khoảng 90 độ, chiều hướng phải sang trái, vị trí cong cách đất 72cm; mặt trước cách thẳng trên 4cm vị trí cong có vùng móp lõm kim loại và bám chất màu bạc kích thước (1x1,5)cm, cao cách đất 76cm. (vị trí 1).
- - Mặt trước nửa bên phải trục tay lái có bám trượt chất màu xanh dương nhạt kích thước (1x1,5)cm, cao cách đất 79cm. (vị trí 2).
- - Giỏ đèo hàng phía trước xe có vỏ ngoài bằng nhựa màu đen bị biến dạng ép dẹt chiều hướng từ trước ra sau và trái sang phải. Phía bên trái có vùng bám chất màu xanh dương nhạt dạng sơn trên vùng kích thước (8x4)cm, cao cách đất 62cm. (vị trí 3)
- - Mặt trên phía đầu mũi chắn bùn bánh trước bị móp lõm từ trên xuống dưới, bề mặt bám trượt chất màu xanh dương nhạt dạng sơn, chiều hướng từ trước ra sau, trái sang phải kích thước (7x3)cm, cao cách đất 60cm. (vị trí 4).
- - Khu vực vùng gồm mặt trước phía bên trái cụm phanh trước và mép trước trái phuộc trái bánh trước có bám trượt chất màu xanh dương dạng sơn, kích thước vùng (7x5)cm, cao cách đất 45cm. (vị trí 5).
- - Lốp và vành trước có đường kính 60cm, mặt lõm lốp trước bằng cao su màu đen, phần vân lốp bị mòn có rãnh vân là 0,3cm và 0,2cm; mặt lăn có vùng bám trượt chất màu nâu vàng dạng đất bám kích thước (25x2,5)cm.
- Đo khoảng cách từ đáy mặt lăn lốp trước theo phương thẳng đứng theo cổ phuộc đến các vị trí (1), (2), (3), (4), (5) khoảng cách lần lượt là 95cm, 91cm, 72cm, 62cm, 55cm.
Kết quả khám nghiệm tử thi Trần Thị M1, sinh năm 1963, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An:
Khám ngoài:
- - Tử thi phía trên bên ngoài mặc áo khoác dài tay màu xanh, bên trong mặc áo ngắn tay màu vàng; phía dưới bên ngoài mặc quần dài màu đen, bên trong mặc quần dài màu vàng.
- - Phía bên trái đầu, cách trên trước đỉnh vành tai trái 6cm, cách trên sau đuôi lông mày trái 8cm, có một vùng xây xát mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước (6,5x10)cm. Trên vùng này có 01 vết thương kích thước (5,5x0,6)cm; bờ mép đứt không gọn, bầm tụ máu.
- - Hố mắt trái bị xây xát, mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước (6x3,3)cm.
- - Ngực cách thẳng trên rốn 16cm có 01 vùng bầm tụ máu không liên tục, kích thước(17x9,5)cm.
- - Từ mỏm khủy tay phải đến 1/3 trên, ngoài cẳng tay phải bị xây xát, mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước(7,5x2)cm.
- - Từ 1/3 dưới cẳng tay phải đến mu bàn tay, mu ngón tay phải bị xây xát da,, sưng phù nề, bầm tụ máu không liên tục, kích thước(20x13)cm. Tương ứng là vị trí gãy kín 1/3 dưới 02 xương cẳng tay phải.
- - Từ 1/3 dưới cẳng tay trái đến mu bàn tay, mu ngón tay trái bị xây xát da,, sưng phù nề, bầm tụ máu không liên tục, kích thước(15.5x16)cm. Tương ứng là vị trí gãy kín 1/3 dưới 02 xương quai tay trái.
- - Ngay mắt cá ngoài cẳng chân phải và mu bàn chân phải bị xây xát, mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước(13x15)cm.
Khám trong(mổ tử thi):
- - Tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng; xương sườn 3,4 bên trái bị gãy hở bên trong, chọc thủng phổi trái, phổi trái xẹp (so với phổi phải). Xương ức và xương sườn số 2, 4 bên phải bị gãy. Tụ máu trung thất. Hai phổi bị dập, phổi trái bị thủng, tim bị vỡ.
- - Hai khoang lồng ngực và bao tim chứa khoảng 800ml máu đông và không đông.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 215/KLGDTT-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận:
- - Các kết quả chính: Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát mất lớp thượng bì da, rách da, sưng phù nề, bầm tụ máu; Tụ máu trung thất; Hai khoang lồng ngực và bao tim chứa khoảng 800ml máu đông và không đông; Hai phổi bị dập, phổi trái bị thủng, xẹp, tim bị vỡ; tim, phổi nhạt màu; Gãy xương ức, hai xương sườn bên phải, hai xương sườn bên trái, hai xương cẳng tay phải và xương quay tay trái.
- - Nguyên nhân chết của tử thi Trần Thị M1, do: Suy tuần hoàn, suy hô hấp do chấn thương làm dập hai phổi, thủng phổi trái, vỡ tim; gãy 02 xương cẳng tay phải, xương quay tay trái, xương ức và 04 xương sườn.
Tại Bản kết luận giám định số: 292/KL-KTHS(DVCH) ngày 5/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận về dấu vết cơ học như sau:
- - Ngay tại thời điểm xẩy ra tai nạn, xe đạp di chuyển trên đường Quốc lộ 46 theo hướng huyện T đi thị trấn Đ, xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 di chuyển ngược chiều với xe đạp.
- - Xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 có va chạm với xe đạp. Vị trí va chạm đầu tiên:
- + Trên phương tiện:
- Trên xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79: Ở mặt trước bên trái đầu xe.
- Trên xe đạp: Ở phía trước xe.
- + Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Quốc lộ 46 theo hướng từ huyện T đi thị trấn Đ.
- + Tư thế va chạm: Mặt lăn các bánh lốp xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 và xe đạp đang tiếp xúc với mặt đường.
- - Không đủ cơ sở để xác định tốc độ di chuyển xe ô tô biển kiểm soát 337C-308.79 và xe đạp ngay tại thời điểm xẩy ra tai nạn.
Ngày 23/9/2023 Nguyễn Văn T đến Cơ quan Công an huyện Đ để đầu thú về hành vi phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ vào 04 giờ ngày 23/9/2023 tại xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An
Thu giữ vật chứng:
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã thu giữ các vật chứng gồm:
- - 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát biển kiểm soát 37C-308 nhãn hiệu CHENG LONG, màu sơn bạc, loại xe có mui số máy: 3L3CL1F01060,số khung: D65XFL214787 đã qua sử dụng
- - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79, số kiểm định: EA : 1357002 do Trung tâm đăng kiểm 37-06D chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1 cấp ngày 14/11/2022; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn T, số giấy phép: 331015509853 do sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 17/4/2023
- - 01(một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 mang tên Nguyễn Văn T, số chứng nhận 086792 do Công an tỉnh N cấp ngày 27/11/2018.
Thu giữ của bị hại Trần Thị M1: 01(một) xe đạp màu đỏ, đã qua sử dụng
Ngày 06/10/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An các tài sản gồm:
- 01(một) xe ô tô tải biển kiểm soát 37C-308.79 nhãn hiệu CHENG LONG, màu sơn bạc, loại xe có mui số máy: 3L3CL1F01060, số khung: D65XFL214787 đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79, số kiểm định: EA1357002 do Trung tâm Đ2 chi nhánh công ty cổ phần Đ1 cấp ngày 14/11/2022; 01(một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 mang tên Nguyễn Văn T, số chứng nhận 086792 do Công an tỉnh N cấp ngày 27/11/2018.
- Trả lại cho ông Nguyễn Thế Q1(đại diện bị hại), sinh năm 1963, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An: 01(một) xe đạp màu đỏ, đã qua sử dụng
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xẩy ra bị cáo Nguyễn Văn T đã thỏa thuận bồi thường một lần đầy đủ cho đại diện hợp pháp gia đình người bị hại (Trần Thị M1) với số tiền 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng. Đại diện gia đình người bị hại đã viết đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn T.
Bản cáo trạng số 113/CT-VKS-HS ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã đến xin lỗi gia đình người bị hại, đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ cho gia đình người bị hại, gia đình người bị hại không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự và gia đình người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo rất hối hận và xin gia đình người bị hại tha thứ.
- - Người đại diện hợp pháp cho người bị hại và người đại diện theo ủy quyền cho người đại diện hợp pháp cho người bị hại trình bày từ khi xẩy ra tai nạn cho đến nay gia đình bị cáo thường xuyên đi lại, quan tâm, thăm hỏi, động viên và hai gia đình đã thỏa thuận xong về bồi thường trách nhiệm dân sự tại phiên tòa không yêu cầu bồi thường về phần trách nhiệm dân sự, gia đình đã có đơn xin bãi nại truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn T, tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại mong muốn Hội đồng xét xử bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo làm ăn giúp đỡ gia đình bị cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 tháng 21 tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) Giấy phép lái xe
hạng FC mang tên Nguyễn Văn T, số giấy phép: 331015509853 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 17/04/2023
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã nhận đầy đủ tiền bồi thường trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại; người đại diện theo ủy quyền cho người đại diện hợp pháp cho người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của đại diện hợp pháp cho người bị hại: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho người bị hại anh Phan Bá K, Phan Bá C1 vắng mặt, nhưng người đại diện theo ủy quyền của anh K, anh C1 có mặt, xét anh K, anh C1 vắng mặt không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về nội dung:
[3.1]. Xét về hành vi phạm tội
Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đặc biệt là kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các kết luận giám định. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 4 giờ 30 phút ngày 23 tháng 9 năm 2023, tại Km 57 + 270 m Quốc lộ D thuộc địa phận xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T, có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 di chuyển theo hướng huyện Đ đi huyện T do ngủ gật, thiếu chú
ý quan sát, đi sai phần đường (Vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ) đã va chạm với xe đạp do bà Trần Thị M1 điều khiển đang di chuyển bên phải theo chiều hướng ngược lạihuyện T đi huyện Đ ). Hậu quả bà Trần Thị M1 chết trên đường đi cấp cứu. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo Nguyễn Văn T là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương
[3.2]. Xét tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của những người tham gia giao thông. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm tội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại (là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự); bị cáo tự nguyện ra đầu thú, gia đình bị hại làm đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự), bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
[3.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
[3.4]. Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận và thực hiện xong phần bồi thường dân sự, đại diện cho người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm phần trách nhiệm dân sự. Xét việc các bên
đã tự thỏa thuận về phần trách nhiệm dân sự và không yêu cầu Tòa án giải quyết phần trách nhiệm dân sự là tự nguyện nên cần tôn trọng, nên không xem xét.
[3.5]. Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát biển kiểm soát 37C-308.79 nhãn hiệu CHENG LONG, màu sơn bạc, loại xe có mui số máy: 3L3CL1F01060, số khung:D65XFL214787 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy Chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79, số kiểm định: EA: 1357002 do trung tâm Đ2 chi nhánh công ty cổ phần Đ1 cấp ngày 14/11/2022; 01(một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 37C-308.79 mang tên Nguyễn Văn T, số chứng nhận 086792 do Công an tỉnh N cấp ngày 27/11/2018; Trả lại cho ông Nguyễn Thế Q1(đại diện bị hại), sinh năm 1963, trú tại xómThuận Lý, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An: 01(một) xe đạp màu đỏ, đã qua sử dụng
Xét việc trả lại tài sản là đúng quy định pháp luật, bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC, số giấy phép: 331015509853 mang tên Nguyễn Văn T thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định giấy tờ hợp pháp của bị cáo có trong hồ sơ vụ án do đó cần tuyên trả lại cho bị cáo
[3.6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của HĐXX nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị
cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC, số giấy phép: 331015509853 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 17/4/2023 mang tên Nguyễn Văn T có trong hồ sơ vụ án.
[3]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho người bị hại, có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ VĂN ĐẠT |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa | |
| Nguyễn Đình Nhàn | Nguyễn Tất Quang | Lê Văn Đạt |
Bản án số 112/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 112/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử hình sự sơ thẩm
