|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST
Ngày: 20-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan
Ông Nguyễn Văn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Nhà văn hóa ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trương Văn H, sinh năm 1991 tại: Đồng Nai; CCCD số [...]. Nơi cư trú: Ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Trương Văn H1, sinh năm: 1954 và bà Lê Thị C, sinh năm: 1956.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xử phạt 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 20/2020/HSST ngày 10/12/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 14/4/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn H là đối tượng nghiện ma túy, năm 2020 H bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, sau khi chấp án phạt tù, trở về địa phương H tiếp tục sử dụng ma túy, để có ma túy sử dụng khoảng 17 giờ ngày 13/4/2024 H liên lạc qua điện thoại cho đối tượng tên Thiên thường ở khu vực xã B, huyện T để mua 600.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy H cất dấu trong vỏ bao thuốc lá S màu vàng đưa về nhà mà chưa sử dụng. Đến 18 giờ ngày 14/4/2024 H đi đến nhà bạn gái ở xã H có mang theo số ma túy trên, khi đang đi bộ trên đoạn đường thuộc ấp H, xã H thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T kiểm tra phát hiện H đang cầm trên tay trái vỏ bao thuốc lá Sái Gòn màu vàng bên trong có 02 túi ni lon cuốn bằng băng keo màu đen là ma túy đá nên lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tôi quả tang, thu giữ 02 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại Samsung màu đen. Quá trình điều tra Trương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên
Căn cứ Kết luận giám định số 791/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,9761 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án gồm:
- - 0,8996 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, không được phép sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen của Trương Văn H liên quan đến vụ án.
- - 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng của Trương Văn H liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng.
Tại cáo trạng số 91/CT-VKS-TN ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 2549 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trương Văn H 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 18 giờ ngày 14/4/2024 tại ấp H, xã H, huyện T Cơ quan CSĐT Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang Trương Văn H về hành vi tàng trữ trái phép 0,9761 gam ma túy, loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của Trương Văn H thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện T nói riêng có chiều hướng phức tạp với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo là người có học vấn thấp nên nhận thức pháp luật bị hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng nay tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, là người rất xem thường pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó, bị cáo phải chịu mức án tương xứng trong vụ án để răn đe phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...”. Tuy nhiên, do bị cáo không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng vụ án:
- - 0,8996 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, không được phép sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng của Trương Văn H liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen của Trương Văn H liên quan đến vụ án cần tịch thu sung công.
[9] Về các nội dung khác:
Đối với đối tượng tên T đã bán ma túy cho Trương Văn H (bản thân H không biết rõ tên, tuổi nơi cư trú) thường ở khu vực xã B, huyện T Cơ quan điều tra Công an huyện T đã gửi thông báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành điều tra, xác minh xử lý theo quy định.
[10] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trương Văn H 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2024.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh Đ hoàn lại theo Kết luận giám định số 791/KL-KTHS ngày 22/4/2024 và 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng của Trương Văn H liên quan đến vụ án.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen của Trương Văn H liên quan đến vụ án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/7/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Buộc bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Xuân |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TTTPMT
