TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 112/2024/HS-ST. Ngày: 20/5/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Trọng Tâm – Thường vụ huyện đoàn Long Thành.
Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Giáo viên trường THPT Long Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm, Thư ký tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh C, sinh năm 1998 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Nơi sinh sống hiện nay: Tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông: Nguyễn Văn Ngọc L và bà Nguyễn Thị N; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 chị em; Bị cáo đang sống chung như vợ chồng với Lâm Hồng N1 và có 01 người con sinh năm 2023;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị hại: Lâm Hồng N1, sinh ngày 23/02/2007.
Địa chỉ: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Lâm Văn T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
2. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh C và Lâm Hồng N1, sinh ngày 23/02/2007 có quan hệ tình cảm với nhau. Khoảng tháng 6 năm 2022 (không nhớ cụ thể ngày) Như đến phòng trọ của C tại khu C, ấp G, xã A, huyện L chơi. Tại đây, C và N1 thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau. Từ tháng 6/2022 đến đầu tháng 7/2022 (không nhớ rõ ngày tháng cụ thể), tại địa điểm trên, C và N1 đã thực hiện quan hệ tình dục với nhau 03 lần. Thời điểm quan hệ, Như 15 tuổi 04 tháng. (Mỗi lần quan hệ Như đều tự nguyện, không bị ép buộc). Sau đó, Như phát hiện mình mang thai, đến ngày 05/02/2023, N1 sinh 01 bé trai tên Nguyễn Minh C1 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ. Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ phát hiện trường hợp trẻ vị thành niên sinh con nên đã ban hành công văn gửi Cơ quan điều tra Công an T1 xử lý. Ngày 07/07/2023, Cơ quan điều tra Công an T1 chuyển tin báo đến Cơ quan điều tra Công an huyện L để giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 6121/KL-KTHS ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . Hồ Chí Minh kết luận:
Lâm Hồng N1 và bé trai (sinh ngày 05/02/2023) có quan hệ huyết thống mẹ - con.
Nguyễn Minh C và bé trai (con của Lâm Hồng N1) có quan hệ huyết thống cha con.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, bị cáo Nguyễn Minh C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được tại hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSLT, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d, khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo C đã bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình bị hại và hiện đang nuôi con. Gia đình N1 đã làm đơn bãi nại cho C, quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lâm Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[3]. Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có cơ sở kết luận: Từ khoảng tháng 6/2022 đến tháng 7/2022 tại nhà trọ của bị cáo Nguyễn Minh C thuộc khu C, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Minh C có hành vi giao cấu 03 lần với Lâm Hồng N1 sinh ngày 23/02/2007 dẫn đến Như có thai và sinh cháu Nguyễn Minh C1 vào ngày 05/02/2023 thì bị phát hiện xử lý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 77/CT-VKSLT, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Nguyễn Minh C theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em, xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục. Do đó đối với bị cáo cần có một mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại cũng đã có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo phụ giúp bị hại chăm sóc và nuôi dạy con. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6]. Về mức hình phạt áp dụng: Xét thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt và không phạm tội khác. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Minh C; bị hại Lâm Hồng N1; Đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị L1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lâm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tù
