|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 18 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phước
- Ông Nguyễn Thành Tâm
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: bà Lê Kiều Mị – Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung K, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1985, tại: Sóc Trăng; nơi thường trú: Ơ, đường D, Khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung C (chết) và bà Trần Quế Q; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; về nhân thân: vào ngày 17/11/2021 bị Công an P, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ chất ma tuý trái phép, đã nộp phạt xong vào ngày 23/12/2021. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Trung K đang ở nhà tại Ơ, đường D, Khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên K điều khiển xe mô tô biển số 83P2-771.64 đi đến chợ thành phố S tìm người nam nghiện ma túy (không rõ họ tên và địa chỉ) để nhờ mua ma túy dùm. Khi đến khu vực bán rau, củ, quả thuộc chợ thành phố S thì K gặp người này đang đi bộ nên K nhờ mua dùm 300.000 đồng ma túy heroin, trả tiền công 50.000 đồng thì người này đồng ý và kêu K đến khu vực nhà T, đường N, Phường 1 thành phố S để nhận ma túy. Sau đó, K đi đến nhà thuốc Nguyễn H đợi khoảng 30 phút thì người nam mua dùm ma túy đến đưa cho K một mảnh giấy màu trắng gói lại bên trong có 05 (năm) đoạn ống nhựa có chứa ma túy. Khi nhận được ma túy, K cất giấu vào túi quần bên trái phía sau rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến khu vực đường số E giao với đường N, Khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì bị Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an thành phố S yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện bên trong túi quần bên trái phía sau mà bị cáo K đang mặc trên người 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có 05 (năm) đoạn ống nhựa, gồm: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, 02 (hai) đoạn ống nhựa màu vàng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu hồng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, tất cả đều được hàn kín hai đầu và bên trong có chất rắn màu trắng. Vì nghi vấn số chất trên là ma túy nên bàn giao cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S phối hợp với Công an P, thành phố S tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng gửi cơ quan chuyên môn giám định.
Tại Kết luận giám định số 46/KLMT-KTHS ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng (A1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1010 gam, loại Heroin; Mẫu tinh thể rắn màu trắng (A2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0100 gam, loại Methamphetamine.
Về vật chứng: 01 (một) gói niêm phong vụ số 46/2024 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S; 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu Yamaha, loại Classico, biển số 83P2-771.64; 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ S, bên trong có sim số 0949506747 được niêm phong ký hiệu "ĐTK"; 01 (một) mảnh giấy màu trắng không đo kích thước. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ và giao trả cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Minh T xe mô tô nói trên.
Cáo trạng số 110/CT-VKS-TPST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung K; xử phạt: bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong vụ số 46/2024 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S và 01 (một) mảnh giấy màu trắng không đo kích thước.
Trả lại cho bị cáo K 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ S, bên trong có sim số 0949506747 được niêm phong ký hiệu "ĐTK"
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; không có tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[2] Nhận thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản xác định hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Trung K thực hiện hành vi phạm tội như sau: vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại khu vực đường số E giao với đường N, Khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Nguyễn Trung K đã có hành vi cất giấu trong túi quần ma tuý 0,1010 gam, loại Heroin và 0,0100 gam, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Trung K đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cho nên, cần phải xử nghiêm đối với các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và gia đình.
[4] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[4.1] Về nhân thân: vào ngày 17/11/2021 bị Công an P, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ chất ma tuý trái phép, đã nộp phạt xong vào ngày 23/12/2021.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích trên, thấy rằng Cáo trạng số 110/CT-VKS-TPST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan sai đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) gói niêm phong vụ số 46/2024 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S và 01 (một) mảnh giấy màu trắng không đo kích thước đây là hàng cấm, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ S, bên trong có sim số 0949506747 được niêm phong ký hiệu "ĐTK" không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo K.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
[8] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, áp dụng pháp luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo không có tiền án, tiền sự đã được xoá, Kiểm sát viên không đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là chưa đầy đủ và chưa bảo đảm nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K: 01 (một) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 25 tháng 3 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng:
- 2.1. Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong vụ số 46/2024 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S và 01 (một) mảnh giấy màu trắng không đo kích thước.
- 2.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ S, bên trong có sim số 0949506747 được niêm phong ký hiệu "ĐTK".
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu 200.000 đồng.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Thanh Bình |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung K - Phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
