TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18/7/2024
Về việc: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Phúc
2. Bà Huỳnh Kim Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Thế Hiển – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 314/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1982
Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2024 và lời trình bày của biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh K do quen biết nên tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới năm 2005. Sau đám cưới vợ chồng chung sống từ năm 2005 đến năm 2006 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2006, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, bất đồng ý kiến. Chị N về nhà ba mẹ ruột sinh sống, anh K về nhà ba mẹ ruột sống. Hiện nay cả hai không còn sống chung, mỗi người đều có gia đình riêng, nay chị N nhận thấy không còn tình cảm với anh K nên chị yêu cầu ly hôn với anh K.
Về con chung: Không có nên chị N không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Nguyễn Duy K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh K thừa nhận lời trình bày của chị N là đúng, hai bên quen biết và có tổ chức đám cưới vào năm 2005 và cả hai về sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Về mâu thuẫn anh thừa nhận vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến. Đến năm 2006, chị N về nhà ba mẹ ruột sinh sống, anh K về nhà ba mẹ ruột sống. Hiện nay cả hai không còn sống chung, mỗi người đều có gia đình riêng, nên anh K đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Không có nên anh K không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim N yêu cầu ly hôn giữa chị với anh Nguyễn Duy K, anh K còn đăng ký hộ khẩu thường trú ở ấp Phước Long, xã Lộc Hòa, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ được quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2005 chị N và anh K có tìm hiểu và quen biết, cả hai tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 cho đến năm 2006, không có đăng ký kết hôn. Chị N và anh K đều xác nhận vợ chồng chung sống không đăng ký kết hôn. Đây là tình tiết sự kiện rõ ràng không phải chứng minh được quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy xác định chị N và anh K chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn là đúng.
[2.2] Tại phiên tòa hôm nay cả hai đều đồng ý ly hôn, nhưng hai người chung sống không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc Nam, nữ có điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Xét việc chị N và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, cả hai đã có gia đình riêng, nên không có giá trị pháp lý cho ly hôn. Căn cứ khoản 1, Điều 14 Luật hôn và gia đình năm 2014 quy định “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định của pháp luật”. Vì vậy Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Duy K là vợ chồng là đúng theo yêu cầu của chị N.
[2.3] Về nuôi con chung: Chị N và anh K không có con chung nên chị N và anh K không yêu cầu giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, khoản 1 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, 14, 53, 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Duy K là vợ chồng.
2. Về nuôi con chung: Chị N và anh K không có con chung nên chị N và anh K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim N phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số: N0001193 ngày 03/6/2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, chị Nguyễn Thị Kim N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Điệp |
Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận chị N và anh K là vợ chồng
