Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 112/2024/HSST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Vân Khánh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Thăng

Bà Lê Thị Hồng Thanh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Anh Nguyễn Phi Hải, Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện VKSND Thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/HSST ngày 19/6/204 đối với các bị cáo:

  1. Lý Quang T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Tổ C, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Lý Quang V sinh năm 1976 và bà Phạm Thị Hồng P sinh năm 1978. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, chấp hành xong vào ngày 13/7/2022. Nhân thân: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 22/8/2018. Ngày 29/01/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 21/2024/HSST.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà giam giữ Công an thành phố L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Hoàng T1 (tên gọi khác: không), sinh năm 1992 tại Đồng Nai. Nơi ĐKHKTT: tổ G, khu phố S, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Hoàng Tấn H sinh năm 1965 và bà Lê Thị B sinh năm 1964 (chết). Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2004, bị Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là thành phố L) áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn là 24 tháng, chấp hảnh xong năm 2006. Năm 2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh xử phạt 04 tháng, 20 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện đã chấp hành xong hình phạt. Năm 2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện đã chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo T1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 10/5/2024 đến ngày 13/5/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” cho đên nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.

  1. Phan Văn H1 (tên gọi khác: không), sinh năm 1993 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Phật giáo. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Phan Đình H2 sinh năm 1970 và bà Đinh Thị T2 sinh năm 1971. Vợ Trịnh Hồng T3, sinh năm 1988, có 02 người con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 24 tháng. Chấp hành xong và năm 2019.

Bị cáo H1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt bị cam để tạm giam” từ ngày 30/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.

- Người bị hại:

  • Anh Lê Công S, sinh năm 1989. Địa chỉ: nhà T, đường số B, khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • Anh Trần Đức C1, sinh năm 1993. Địa chỉ: nhà T, đường số B, khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Đinh Thị T2 sinh năm 1971. Địa chỉ: số E, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • Bà Trương Kim T4, sinh năm 1979. Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo, bà T2 có mặt, người bị hại, bà T4 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 06 năm 2023, Lý Quang T đến gặp anh Trịnh Văn L mượn 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe máy hiệu Halley màu xanh đen, biển số 60S7-9657 của T làm tin, hẹn sau 10 ngày nếu T không trả tiền thì chiếc xe trên sẽ thuộc về L, do quen biết với T nên L đồng ý giữ xe và đưa tiền cho T mượn. Đến ngày hẹn, L không thấy T đến trả tiền nên vào cuối tháng 06 năm 2023, L bán chiếc xe trên với giá 1.000.000 đồng cho anh Lê Công S, sinh năm 1993, ngụ tại khu phố S, phường S, thành phố L, Đồng Nai.

Khoảng 17 giờ ngày 16 tháng 07 năm 2023, Lý Quang T rủ Hoàng T1, và Phan Văn H1 đến nhà L để xin lấy lại chiếc xe mô tô trên. H1 lấy xe mô tô hiệu Nozza màu đen, biển số 60B2-534.25 chở T1 và T đến phòng trọ của L, hỏi xin chuộc lại xe Halley biển số 60S7 – 9657 thì L nói chiếc xe đã bán rồi, T hỏi “bán cho ai”, L nói “Bán cho bạn nhà ở D, phường S. Nghe L nói vậy H1, T1 và T chạy xe lên khu vực phường S để tìm. Đến khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, khi đi đến cuối đoạn đường số 7 giao nhau với đường L kkhu phố N, phường S, T thấy chiếc xe Halley biển số 60S7 – 9657 đang dừng đợi đèn tín hiệu giao thông do Lê Công S, điều khiển chở theo Trần Đức C1, T nói với H1 dừng lại chặn đầu xe của S và C1. T hỏi “xe này của ai sao tụi mày có”, S nói “xe này em mua lại”, T nói “xe này của tao, tụi mày mua ở đâu, tao có giấy tờ mà, sao tụi mày mua được”, S nói “em mua của anh L”, H1 nói S và C1 lên xe đi về nhà L để giải quyết do mua xe không giấy tờ, S và C1 nghe theo, T lên xe hiệu Halley, biển số 60S7 – 9657 chở C1, S lên xe hiệu Nozza màu đen, biển số 60B2-534.25 để T1 chở (S ngồi giữa H1 ngồi sau). T1 điều khiển xe chạy trước di chuyển từ đường số G, khu phố N, phường S, thành phố L đến khu phố S, phường B, thành phố L thì rẽ vào khu vực Nghĩa địa S, T1 xuống xe, rồi dùng tay đánh vào mặt của S và nói “ai cho mày dám lấy xe của bạn tao”. Lúc này T mới chở C1 đến, H1 nói S và C1 đưa giấy tờ ra để kiểm tra, S và C1 lấy ví ra cho H1 kiểm tra ví của C1 có 1.600.000đ, H1 lấy số tiền 1.600.000đ của C1 xong lên xe biển số 60B2-534.25 do T1 điều khiển chạy đi, thấy vậy T cũng điều khiển xe máy biển kiểm soát 60S7-9657 chạy theo T1 và H1. Sau chiếm đoạt xe mô tô và tiền, các đối tượng dùng số tiền tiêu xài cá nhân, khi biết được hành vi của mình phát hiện các đối tượng mang xe và tiền trả lại cho bị hại rồi bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T, T1 và H1. Ngày 30/10/2023, H1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt bị can để tạm giam”. Riêng bị can T và T1 bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành truy nã, ngày 22/9/2023, Lý Quang T bị bắt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 10/5/2024, Hoàng T1 bị bắt truy nã.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 113/HĐĐGTSTHĐTT ngày 27/10/2023 của Hội đồng giám định tài sản trong hoạt động tố tụng hình sự thành phố L kết luận:

01 chiếc xe gắn máy hiệu Halley kiểu giáng Wave, biển số 60S7-9657, máu xanh đen, xe đã qua sử dụng thời điểm ngày 16 tháng 07 năm 2023 có trị giá là 700.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo H1 và bị cáo T đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Riêng bị can H1 có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ và là lao động chính trong gia đình. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ đối với bị cáo T và H1

Bản cáo trạng số: 114/CT-VKS ngày 19/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 BLHS;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Xử phạt bị cáo T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Bị cáo T1 và bị cáo H1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Về tội danh: lời khai các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua đó xác định được: Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, tại đoạn đường số G giao nhau với đường L, phường S, thành phố L, Lý Quang T, Hoàng T1, và Phan Văn H1 đã dùng vũ lực cướp của anh Lê Công S 01 xe mô tô biển số 60S7-9657, có giá trị là 700.000 đồng và số tiền 1,6 triệu đồng của anh Trần Đức C1. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “cướp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, việc xử lý nghiêm đối với các bị cáo là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo; bên cạnh đó cũng để phòng ngừa chung đối với mọi người.

Các bị cáo đều là người thực hành nên phải chịu trách nhiệm chung về hành vi này với vai trò đồng phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng phải đánh giá vai trò của từng bị cáo để lượng hình một cách khách quan, toàn diện.

Trong vụ án này, bị cáo Lý Quang T là người chủ động đề xuất, rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nhằm lấy lại chiếc xe honda hiệu Halley màu xanh đen, biển số 60S7-9657 mà bị cáo đã cầm cố trước đó. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo giữ vai trò chính. Ngoài ra, bị cáo có 01 tiền sự, vào năm 2021 bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo còn có nhân thân xấu, ngày 29/11/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 21/2024/HSST nên bị cáo phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Bị cáo Hoàng T1 mặc dù không phải là người khởi xướng nhưng sau khi nghe T đề xuất đã tích cực hưởng ứng khi cùng T, H1 ép người bị hại để cướp xe, bị cáo là người dùng vũ lực để đe dọa người bị hại. Ngoài ra, sau khi bị khởi tố, bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt giữ theo lệnh truy nã, gây khó khăn cho công tác điều tra của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo và thấp hơn bị cáo T.

Đối với bị cáo Phan Văn H1 cũng là người thực hành tích cực thể hiện sau khi hưởng ứng việc T đề xuất đi lấy lại xe, bị cáo là người trực tiếp yêu cầu người bị hại mở ví và lấy tiền của người bị hại. Do đó, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình gây ra.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các bị cáo thực hiện hành vi cướp chỉ nhằm mục đích lấy lại chiếc xe đã cầm cố cho bị cáo T, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công mà thực hiện hành vi mang tính tự phát. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đều tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi gây ra, người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo H1 và T đã bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H1 đang nuôi 02 con nhỏ sinh năm 2020 và 2022, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Xe mô tô hiệu Halley biển số 60S7 – 9657 hiện chưa xác minh được nguồn gốc xe mô tô nêu trên nên Cơ quan điều tra Công an thành phố L tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau.

Xe mô tô hiệu Nozza màu đen, biển số 60B2-534.25 là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị T2 (mẹ ruột của H1), khi bị cáo H1 lấy xe, chị T2 không biết H1 sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho chị T2.

Về dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo H1 và T đã bồi thường thiệt hại cho anh C1 số tiền 2.000.000 đồng, bồi thường cho anh S số tiền 1.000.000 đồng. Người bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự

  1. Tuyên bố các bị cáo Lý Quang T, Hoàng T1, Phan Văn H1 phạm tội "Cướp tài sản"

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Quang T 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 04 (bốn) năm tù của bản án số 21/2024/HSST ngày 21/2024/HSST. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Phan Văn H1 02(hai) năm 02(hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2023.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

THÀNH VIÊN HĐXX SƠ THẨMThẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh ĐN,
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN,
  • - VKSND TPLK,
  • - CA TPLK,
  • - THA TPLK,
  • - Trại giam B5,
  • - Các bị cáo
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Vân Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản

  • Số bản án: 112/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Lý Quang Thịnh 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 04 (bốn) năm tù của bản án số 21/2024/HSST ngày 21/2024/HSST. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2023. Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thanh 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Áp dụng khoản 1 Điều , điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Phan Văn Hà 02(hai) năm 02(hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger