|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thuỵ Thuỳ Nga.
- Ông Lê Văn Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị X, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1982 tại: tỉnh Tiền Giang.
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 22/11/2021, nơi cấp: Cục C về TTXH – Bộ C1.
Nơi cư trú: Ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp cấp dưỡng trường học; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T; có chồng và 02 con; tiền án không, tiền sự không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1966 chết ngày 24/01/2024
Nơi cư trú: ấp T, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 1999 (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988 (có mặt)
- Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1990 (có mặt)
Nơi cư trú: Số B, Tổ A, ấp T, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số B, Tổ A, ấp T, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số B, Tổ A, ấp T, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967 (vắng mặt)
- Ông Đặng Văn Q1, sinh năm 1974 (vắng mặt)
- Ông Thạch Phước T3, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 22/01/2024, Nguyễn Thị X có giấy phép lái xe hạng A1 (cấp ngày 20/11/2013, có giá trị không thời hạn) điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63H4-9742 lưu thông trên đường đal 2,5m (đường không ưu tiên) theo hướng H - N. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường K lúa và đường Đal 2,5m, đoạn thuộc ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang, X phát hiện bà Lê Thị H điều khiển xe đạp điện lưu thông trên đường K lúa (đường ưu tiên) theo hướng huyện lộ 36 - B nhưng X không nhường đường nên để xảy ra va chạm với xe đạp điện của bà Lê Thị H, làm bà H té ngã xuống đường bị thương tích ở vùng đầu. Bà Lê Thị H được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 24/01/2024 thì tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của bị cáo X vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định: “23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và tại khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ quy định: “3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”. Nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông là do bị cáo Nguyễn Thị X điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63H4-9742 trên đường Đ 2,5m (đường không ưu tiên) qua đường giao nhau nhưng không nhường đường cho các phương tiện lưu thông trên đường ưu tiên để xảy ra tai nạn dẫn đến hậu quả bà Lê Thị H tử vong. Trong vụ án này, bị hại Lê Thị H có lỗi phụ là điều khiển xe đạp điện không giảm tốc độ trong khu vực có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 16 giờ 50 phút ngày 22/01/2024, ghi nhận: Hiện trường chung xảy ra tai nạn giao thông tại ngã 4 giao nhau giữa đường K lúa đoạn thuộc ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang rộng 3 mét và đường Đal 2,5m, mặt đường bằng phẳng, không có chướng ngại vật. Trên hành lang phải của đường K lúa hướng đi từ đường huyện lộ 36 - B có trụ gắn biển báo hình tam giác nền màu vàng, mũi tên màu đen chỉ hướng rẽ phải cách mép đường Đal rộng 2,5m là 18m60. Trên hành lang phải của đường K lúa hướng B - đường huyện lộ 36 có trụ gắn biển báo nguy hiểm số 207b giao nhau với đường không ưu tiên về bên phải. Trên đường Đal rộng 2,5m ghi nhận không có biển báo hiệu. Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông được xác định theo hướng huyện lộ 36 - B, lấy mép đường bên phải của đường Kênh Kho lúa theo hướng đã chọn làm mép chuẩn và chọn trụ điện số (3) làm vật chuẩn.
Tại biên bản dựng lại hiện trường vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 26/02/2024, ghi nhận: Hiện trường được xác định theo hướng đường huyện L - B lấy mép đường bên trái của đường Kênh Kho lúa theo hướng đã chọn và trụ điện số 3 làm vật chuẩn. Trên mặt đường K lúa có vùng màu đỏ sậm kích thước (0m30×0m30) nghi máu nạn nhân, được ký hiệu là (1). Từ tâm của (1) cách mép đường chuẩn 1m70 và kéo thẳng góc về hướng đường huyện lộ 36 đến mép đường Đ 2,5mét là 0m40. Xe đạp điện ngã nghiêng qua phải, đầu xe xéo vào hành lang trái, đuôi xe xéo qua hành lang phải của đường Kênh Kho lúa được ký hiệu là (2). T4 trục bánh trước của (2) nằm trên mép đường đan 2,5 mét cách mép đường chuẩn là 0m40, tâm trục bánh sau của (2) cách mép đường chuẩn là 0, 35 mét. Từ trục bánh trước của (2) kéo thẳng góc về hướng Nhị Bình đến trục bánh sau của xe 63H4-9742 là 1m30. Xe 63H4-9742 đỗ trên đường Đ 2,5 mét, đầu xe quay về hướng N đuôi xe quay về hướng H được ký hiệu là (3). T4 trục bánh trước của (3) cách mép đường chuẩn là 3m00, tâm trục bánh sau của (3) cách mép đường chuẩn là 1m70, tâm trục bánh trước và sau của (3) cách mép đường bên phải của đường Đal 2,5 mét theo hướng Hữu Đạo đi N là 1m20. Từ trục bánh trước của xe đạp điện kéo thẳng góc về hướng B đến trụ điện số (3) là 11m50. Trụ điện này nằm trên hành lang trái của đường K lúa được ký hiệu là (4) và cũng là vật chuẩn trong vụ tai nạn.
Tại Bản kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 1. Cơ chế hình thành dấu vết trên xe mô tô biển số 63H4-9742 và xe đạp điện: Dấu vết trượt xước mặt lăn và má trái lốp bánh trước; trượt xước, mất chất màu đen bên trái giỏ đồ gắn phía trước xe đạp điện, có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm phù hợp với dấu vết trượt sạch bụi mặt ngoài phía sau ốp bảo vệ xích tải, bên trái vành và lốp bánh sau, trượt bám chất màu đen cạnh bên trái biển số xe mô tô biển số 63H4-9742, có chiều từ trái sang phải. Bánh trước xe đạp điện và ốp bảo vệ xích tải xe mô tô biển số 63H4- 9742 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc khoảng giữa giao lộ đường K + đường Đal 2,5m, không đủ cơ sở xác định khoảng cách từ vị trí này đến lề đường bên phải theo hướng B - huyện lộ 36 là bao nhiêu. Dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải xe đạp điện (đầu tay lái, giỏ đồ gắn phía trước, bàn đạp, để chân sau) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường. 2. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 63H4-9742 với người, vật hay phương tiện khác. 3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe đạp điện với người, vật hay phương tiện khác. 4. Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển số 63H4-9742 chuyển động tại giao lộ đường Kênh Kho L + đường Đal 2,5m theo hướng từ H đi N, xe đạp điện chuyển động tại giao lộ trên theo hướng từ đường huyện C đi B.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 32/2024/KLGĐTT-TTPY ngày 24/01/2024, của Trung tâm pháp y - Sở Y đối với tử thi Lê Thị H, kết luận: Nguyên nhân tử vong của tử thi Lê Thị H là chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ hai bán cầu đại não. Xuất huyết thân não. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não. Xuất huyết trong nhu mô não. Dập não trán thái dương trái. Vỡ sàng sọ/Hậu phẫu mổ chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSCT ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị X về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị X phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, có nhân thân tốt và gia đình bị cáo là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo và gia đình bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, gia đình bị hại được nhận lại số tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 60.000.000 đồng do bị cáo nộp tại cơ quan thi hành án Dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang; Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Thị X, lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 tấm ảnh ghi lại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo X khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu: Về trách nhiệm hình sự: xin Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự: đã nhận từ bị cáo tiền chi phí mai táng số tiền 90.000.000 đồng và sẽ liên hệ cơ quan thi hành án để nhận số tiền tổn thất tinh thần 60.000.000 đồng do bị cáo nộp, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Bị cáo X nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo có thể chăm sóc cha mẹ đang bệnh và chăm sóc cho 02 con còn quá nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong khí thở, bản kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 32/2024/KLGĐTT-TTPY ngày 24/01/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y. Kiểm sát viên cũng không có ý kiến gì về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong khí thở, các bản kết luận giám định.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường, khám nghiệm phương tiện, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ, ngày 22/01/2024, tại ngã tư giao nhau giữa đường K lúa và đường Đal 2,5m, đoạn thuộc ấp B, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Thị X điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63H4-9742 lưu thông trên đường Đ 2,5m (đường không ưu tiên) theo hướng H - N nhưng không nhường đường cho các phương tiện lưu thông trên đường ưu tiên cụ thể là bà Lê Thị H điều khiển xe đạp điện lưu thông trên đường K lúa (đường ưu tiên) theo hướng huyện lộ 36 - B, làm xảy ra tai nạn. Hậu quả, bà Lê Thị H tử vong.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị X đã vi phạm quy định khoản 23 Điều 8, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ nên dẫn đến tai nạn va chạm với xe của bị hại Lê Thị H, hậu quả làm cho bị hại tử vong, nên đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị X phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[5] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo biết hành vi không chú ý quan sát, nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ có thể gây ra hậu quả nguy hại cho bị hại nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra đã gây ra tai nạn làm cho bị hại tử vong, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại tính mạng và tài sản của bị hại. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại gồm chi phí mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần, bị cáo có cha và mẹ là người có công với cách mạng, khi tai nạn xảy ra bị cáo tích cực cứu giúp bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình, chăm sóc cho cha mẹ có bệnh lý và đang nuôi 02 con còn nhỏ có 01 con được 07 tuổi và 01 con 26 tháng tuổi nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo X đã bồi thường cho gia đình bị hại Lê Thị H số tiền chi phí mai táng là 90.000.000 đồng. Đối với yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 60.000.000 đồng của người đại diện hợp pháp của bị hại, ngày 13/8/2024, bị cáo đã nộp số tiền 60.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003375 ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nên người đại diện hợp pháp của bị hại được nhận số tiền này. Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với xe đạp điện của bà Lê Thị H bị hư hỏng sau tai nạn, anh Nguyễn Anh T1 là con của bà H tự sửa chữa, không yêu cầu Nguyễn Thị X bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng của vụ án: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 tấm hình chụp hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 22/01/2024. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị X 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] tên Nguyễn Thị X.
[9] Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trao trả xe mô tô biển 63H4-9742 và 01 giấy đăng ký xe mô tô cho bị cáo Nguyễn Thị X; Trao trả 01 xe đạp điện cho anh Nguyễn Anh T1 là con ruột bà Lê Thị H là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị X phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn Thị X cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị H được quyền nhận lại số tiền 60.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003375 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang do bị cáo Nguyễn Thị X nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 tấm hình chụp hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 22/01/2024.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị X 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] tên Nguyễn Thị X. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Bị cáo Nguyễn Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Kim Hằng |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: án hình sự Nguyễn Thị X vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
