|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST
Ngày: 15-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Mai;
- Bà Đỗ Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Trần Thị P - sinh năm 1973 tại Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: 6 Y, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: A Đồng Nai, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Anh T, đã chết và bà: Nguyễn Thị N, không rõ năm sinh; chồng: Kang Hayung, sinh năm 1961; con: 01 người, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
- Hoàng Minh Đ - sinh năm 1963 tại Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: thôn M, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn S, sinh năm 1928 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1930 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không.
- Ngày 26/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 16/2005/HSST.
- Ngày 27/12/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 71/2007/HSST.
- Ngày 24/01/2011, bị Công an thị xã C, tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 21/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 25/01/2011.
- Ngày 26/3/2014, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 90/2014/HSST. Ngày 10/7/2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo Bản án số 473/2014/HSPT tuyên giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm.
- Lê Văn Đ1 - sinh năm 1951 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Khả Đ2, đã chết và bà: Nguyễn Thị T1, đã chết; vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1954; con: 08 người, lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không.
- Hắc Ngọc T2 - sinh năm 1974 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: 1/11/28 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 1/11/28 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hắc Ngọc H1, đã chết và bà: Lê Thị Đ3, đã chết; vợ: Lê Thị Kim C, sinh năm 1971; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1980 tại Phú Thọ; nơi đăng ký thường trú: 170 - A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 170 - A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1953 và bà: Tô Thị N2, sinh năm 1956; vợ: Phạm Thị L1, sinh năm 1989; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
- Phạm Vũ Minh T3 - sinh năm 1980 tại Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: 504A-C4, chung cư K, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: I Tiền Giang, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T4, sinh năm 1955, đã chết và bà: Vũ Thị H3, sinh năm 1956; chồng: Dương Tuấn A, sinh năm 1980; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Tiền sự: Ngày 26/9/2023, Đ bị Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 0015440/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 25/4/2024.
Nhân thân:
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Nhân thân: Ngày 26/6/2020, T3 bị Công an P1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 0000913/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 01/7/2020.
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1992; địa chỉ: TDP I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 40 phút ngày 28/01/2024, Đ4 kết hợp Công an P1, Công an quận T, kiểm tra hành chính nhà địa chỉ số D C, Phường B, quận T của Trần Thị P thì bắt quả tang Trần Thị P, Phạm Vũ Minh T3, Lê Văn Đ1, Hoàng Minh Đ, Hắc Ngọc T2 và Nguyễn Văn H2 đang thực hiện hành vi đánh bài “Chắn” thắng thua bằng tiền với số tiền thu tại chiếu bạc là 17.450.000 đồng.
Qua điều tra xác định: Hình thức chơi bài “Chắn” như sau: Một bộ bài “Chắn” gồm 100 lá, bắt đầu chơi sẽ chia bộ bài 100 lá thành 05 phần bằng nhau (mỗi phần 20 lá), 04 người lấy 04 phần, còn 1 phần bỏ vào đĩa sứ làm bài rút (bài nọc). Kết thúc một ván chơi “Chắn” có hai dạng: thắng là “Ù” – thua không “Ù” hoặc huề tiền là không có ai thắng thua, không phải chung tiền đánh bạc.
Dạng thứ nhất: người thắng là bài “Ù” – 03 người bài không “Ù” là thua cùng chung một mức tiền cho người thắng có bài “Ù”. Mức tiền chung chi thắng thua được Đ, Đ1, T2, H2 tự thỏa thuận, thống nhất 03 kiểu “Ù” như sau:
- Người thắng “Ù Suông” được số tiền 300.000 đồng; nghĩa là 03 người thua phải chung số tiền 100.000 đồng/mỗi người x 3 là 300.000 đồng, trường hợp này không có “tiền xâu” cho P.
- Người thắng “Ù Bạch Thủ” được số tiền 300.000 đồng, 03 người thua phải chung số tiền 300.000 đồng/mỗi người x3 là 900.000 đồng, trường hợp này không có “tiền xâu” cho P.
- Người thắng “Ù Bạch Định” (hay gọi là “Ù To”) được số tiền 600.000 đồng, 03 người thua phải chung số tiền 600.000 đồng/mỗi người x 3 là 1.800.000 đồng; trường hợp này người thắng phải đưa “tiền xâu” cho P là 100.000 đồng bỏ vào hũ nhựa đã để sẵn trên chiếu bạc.
Dạng thứ hai: “huề tiền”, tức là kết thúc ván chơi thì không ai thắng (không ai Ù), không ai thua.
Tại cơ quan điều tra Trần Thị P khai nhận: P rủ Đ1, Đ, T2, H2 đánh bài “Chắn” ăn tiền tại nhà P để P thu tiền xâu tiêu xài cá nhân. P lấy một cái mền vải màu vàng trải lên bàn gỗ làm chiếu bạc, đặt 4 khay nhựa, một đĩa sứ hình tròn màu xanh và lấy nhiều bộ bài “Chắn” ra sử dụng để phục vụ mọi người đánh bài. Do cần người chia bài để khách quan và tránh gian lận, P phân công Phạm Vũ Minh T3 chia bài cho những người đánh bạc. Đ, Đ1, T2, H2 chơi được khoảng 25 ván thì bị bắt quả tang, thu giữ 400.000 đồng “tiền xâu”.
Phạm Vũ Minh T3 khai nhận: Vào ngày 28/01/2024, P yêu cầu T3 chia bài “Chắn” ăn tiền tại nhà P cho 04 người chơi đánh bạc để tránh gian lận và các người đạnh bạc không phải chia bài. P chưa chia tiền gì cho T3.
Lê Văn Đ1 khai nhận: Đường mang theo trong người số tiền 9.500.000 đồng và dùng 4.000.000 đồng để chơi đánh bài. Nếu Đ1 đánh thua hết thì không chơi nữa, còn lại số tiền 5.500.000 đồng dùng để tiêu xài cá nhân và mua thuốc uống. Khi bị bắt quả tang, Đ1 thắng số tiền 7.000.000 đồng.
Hoàng Minh Đ khai nhận: Đ mang theo trong người số tiền 15.650.000 đồng và dùng số tiền 1.650.000 đồng để chơi đánh bài. Nếu Đ đánh thua hết thì không chơi nữa, còn lại số tiền số tiền 14.000.000 đồng dùng để tiêu xài cá nhân và không sử dụng đánh bài ăn tiền. Khi bị bắt quả tang, Đ thắng số tiền 2.250.000 đồng.
Hắc Ngọc T2 khai nhận: T2 mang theo trong người số tiền 2.300.000 đồng để để chơi đánh bài. Khi bị bắt quả tang, T2 thua số tiền 650.000 đồng nên thu giữ của T2 số tiền 1.650.000 đồng.
Nguyễn Văn H2 khai nhận: H2 mang theo trong người số tiền 9.500.000 đồng để chơi đánh bài. Khi bị bắt quả tang, H2 thua số tiền 9.000.000 đồng nên thu giữ của H2 số tiền 500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 05 (năm) cái ghế xếp màu đen, 01 bàn hình chữ nhật, mặt bàn gỗ ép, chân bàn bằng sắt, 01 mềm vải màu vàng, 01 đĩa sành hình tròn màu xanh, trắng; 04 khay nhựa hình chữ nhật màu trong suốt; 01 hũ nhựa màu trong suốt; 10 bộ bài chắn 100 lá còn nguyên chưa sử dụng; 01 (một) bộ bài chắn 100 lá đã sử dụng;
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Sh Mode, biển số: 49F1-220.06. Qua xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Thanh T5 đứng tên chủ xe. Qua làm việc, chị T5 trình bày mua xe vào năm 2015 với giá 61.000.000 đồng. Đến tháng 06/2021 khi chị T5 điều khiển xe đến Trung tâm VNPT đường 23/3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông bị kẻ gian trộm mất. Chị T5 nghĩ sẽ không tìm lại được xe nên không đến Công an phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông trình báo.
- Tiền Ngân hàng N3 là 17.450.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã nhập kho toàn bộ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKS-TB ngày 29 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Trần Thị P, Hoàng Minh Đ, Lê Văn Đ1, Nguyễn Văn H2, Hắc Ngọc T2 và Phạm Vũ Minh T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:
- Bị cáo Trần Thị P phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng;
- Bị cáo Nguyễn Văn H2 phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng;
- Bị cáo Hắc Ngọc T2 phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng;
- Bị cáo Lê Văn Đ1 phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
- Bị cáo Phạm Vũ Minh T3 phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
- Bị cáo Hoàng Minh Đ phạt tù từ 12 đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Sau phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận, bào chữa bổ sung mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Trần Thị P, Nguyễn Văn H2, Hắc Ngọc T2, Lê Văn Đ1, Phạm Vũ Minh T3 và Hoàng Minh Đ, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/01/2024, tại nhà số D C, Phường B, quận T, Trần Thị P điện thoại rủ Nguyễn Văn H2, Hắc Ngọc T2, Lê Văn Đ1,Phạm Vũ Minh T3 và Hoàng Minh Đ đến nhà uống bia rồi tổ chức đánh bài “Chắn” ăn tiền. P cung cấp địa điểm, bàn ghế, bài và phân công Phạm Vũ Minh T3 chia bài cho mọi người chơi để thu tiền xâu. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, Công an kiểm tra bắt quả tang Lê Văn Đ1, Hoàng Minh Đ, Hắc Ngọc T2 và Nguyễn Văn H2 đang đánh bài cùng tiền tang vật là 17.450.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, trị an tại địa phương nên cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức về hành vi đánh bạc sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng chỉ vì ham mê cờ bạc với mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Các bị cáo Trần Thị P, Nguyễn Văn H2, Lê Văn Đ1, Hắc Ngọc T2 và Phạm Vũ Minh T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên còn được hưởng thêm tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Riêng bị cáo Lê Văn Đ1 sinh năm 1951, thời điểm phạm tội 73 tuổi nên được hưởng thêm tình tiết “Người phạm tội đủ 70 tuổi trở lên” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét nhân thân của các bị cáo Trần Thị P, Nguyễn Văn H2, Lê Văn Đ1, Hắc Ngọc T2 và Phạm Vũ Minh T3 tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì, các bị cáo cũng tự nguyện nộp một số tiền vào để đảm bảo thi hành án, đồng thời, cũng để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, nghĩ không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình thức xử phạt tiền đối với các bị cáo cũng có tác dụng giáo dục và để các bị cáo tự cải tạo.
Riêng bị cáo Hoàng Minh Đ có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội đánh bạc nhưng vẫn cố tình vi phạm thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
Vì vậy, việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo để đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo P, Đ1, H2, T2 và T3, riêng bị cáo Đ đề nghị xử phạt tù do có nhân thân xấu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Trần Thị P, Phạm Vũ Minh T3, Lê Văn Đ1, Hắc Ngọc T2 và Nguyễn Văn H2 bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không phạt bổ sung các bị cáo. Còn bị cáo Đ không có nghề nghiệp ổn định, không có nơi cư trú rõ ràng nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án:
Đối với số tiền ngân hàng N3 là 17.450.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc. Xét đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Sh Mode, biển số: 49F1-220.06, số khung 5119FY013623, số máy JF51E0223463 thu giữ của bị cáo T3. T3 khai năm 2021 một người bạn của T3 tên Thúy K (không rõ lai lịch) mượn tiền của T3 nhưng không có tiền trả nên giao xe cho T3 sử dụng, không có làm hợp đồng mua bán. Qua giám định số khung, số máy không đổi. Kết quả xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1992 đứng tên chủ xe. Chị T5 trình bày mua xe vào năm 2015 với giá 61.000.000 đồng do chị quản lý sử dụng. Đến tháng 06/2021 khi chị T5 điều khiển xe đến Trung tâm VNPT đường 23/3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông bị kẻ gian trộm mất chị T5 nghĩ sẽ không tìm lại được xe nên không đến cơ quan công an để trình báo. Xét bị cáo T3 không cung cấp được chứng cứ thể hiện quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo với chiếc xe nên cần trả xe cho chị Nguyễn Thị Thanh T5. Trường hợp phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu xe thì sẽ được giải quyết ở một vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
- 05 (năm) cái ghế xếp màu đen, 01 (một) bàn hình chữ nhật, mặt bàn gỗ ép, chân bàn bằng sắt, 01 mềm vải màu vàng, 01 (một) đĩa sành hình tròn màu xanh, trắng; 04 (bốn) khay nhựa hình chữ nhật màu trong suốt; 01 (một) hũ nhựa màu trong suốt; 10 (mười) bộ bài chắn 100 lá còn nguyên chưa sử dụng; 01 (một) bộ bài chắn 100 lá đã sử dụng. Xét đây là các công cụ phương tiện các bị cáo dùng để phạm tội, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo P, H2, T2, T3 và Đ mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đ1 là người cao tuổi, mặc dù thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí nhưng bị cáo không có đơn đề nghị nên vẫn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố các bị cáo Trần Thị P, Nguyễn Văn H2, Hắc Ngọc T2, Phạm Vũ Minh T3, Lê Văn Đ1 và Hoàng Minh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
-
Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Trần Thị P số tiền 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng mà bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu số 0002124 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bị cáo P phải nộp thêm số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
-
Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H2 số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng mà bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu số 0002126 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bị cáo H2 phải nộp thêm số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
-
Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Hắc Ngọc T2 số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng mà bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu số 0002135 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bị cáo đã nộp đủ.
-
Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Phạm Vũ Minh T3 số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng mà bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu số 0002129 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bị cáo T3 được nhận lại số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
-
Áp dụng điểm o, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Lê Văn Đ1 số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng mà bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu số 0002125 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bị cáo Đường được nhận lại số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
-
Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: H (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2024.
[2] Về vật chứng:
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: số tiền 17.450.000 (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng.
- Tịch thu và tiêu hủy: 05 (năm) cái ghế xếp màu đen, 01 (một) bàn hình chữ nhật, mặt bàn gỗ ép, chân bàn bằng sắt, 01 mềm vải màu vàng, 01 (một) đĩa sành hình tròn màu xanh, trắng; 04 (bốn) khay nhựa hình chữ nhật màu trong suốt; 01 (một) hũ nhựa màu trong suốt; 10 (mười) bộ bài chắn 100 lá còn nguyên chưa sử dụng; 01 (một) bộ bài chắn 100 lá đã sử dụng;
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T5 01 xe gắn máy hiệu Honda Sh Mode, biển số: 49F1-220.06 có số khung 5119FY013623, số máy JF51E0223463.
(Theo Giấy nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước quận T không số ngày 11/4/2024 tại Ngân hàng TMCP C1)
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 106/BB/2024 ngày 12/6/2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị P và đồng bọn
