TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: /2024/HS-ST Ngày: 15-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thân Văn Nhàn
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Vân Ngọc – Thư ký TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Đại diện VKSND thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đoàn Thế Đ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST - HS ngày 04/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST–HS ngày 04/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Văn T, sinh năm 2002; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn T1 và bà Hoàng Thị D; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Y, xã Y, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
- Người làm chứng:
- Anh Lương Hồng T2 – sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Anh Dương Văn P – sinh năm 1986 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ ngày 25/12/2023, tại đoạn đường thuộc thôn N, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố N, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; tổ tuần tra kiểm soát của Phòng C Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang Triệu Văn T- sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên phải Triệu Văn T đang mặc 04 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma tuý Herroine), tất cả được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “QT”. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110S, màu trắng đen, biển kiểm soát 99E1-084.75 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, màu đỏ, số I: 865996048615093.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Triệu Văn T tại thôn N, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố N, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan.
Ngày 25/12/2023, Cơ quan điều tra trưng cầu Phòng K-Công an tỉnh B giám định đối với vật chứng thu giữ được nghi là ma túy. Kết luận giám định số 2641/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K-Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,323 gam, loại Heroine (H).
Quá trình điều tra, bị cáo Triệu Văn T khai nhận về nguồn gốc số ma túy khi bắt quả tang như sau: T là người nghiện ma túy, thuê trọ tại thôn N, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố N, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110S, biển kiểm soát 99E1-084.75 đi đến khu vực phía sau cây xăng Y thuộc địa phận tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang để mua ma túy Heroine về sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua của người nam thanh niên không quen biết, khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,7m, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai hỏi mua 600.000 đồng tiền chất ma túy Heroine thì người này đồng ý; Thụ đưa 600.000 đồng cho người nam thanh niên thì người này đưa cho T 04 gói giấy bạc bên trong mỗi gói đều chứa ma tuý Heroine. T cầm 04 gói ma túy rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi T điều khiển xe đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố N, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang thì bị tổ tuần tra kiểm soát của Phòng C- Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng liên quan.
Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 thu giữ của Triệu Văn T nhưng không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Triệu Văn Thụ ra trước Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Triệu Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 05 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/12/2023.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Trả lại bị cáo Triệu Văn T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110S biển kiểm soát 99E1-084.75; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 số Imei 865996048615093
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ ngày 25/12/2023, tại đoạn đường thuộc thôn N, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố N, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Tổ tuần tra kiểm soát của Phòng C-Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang Triệu Văn T đang có hành tàng trữ trái phép 0,323 gam chất ma túy Heroine, với mục đích để sử dụng.
[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, là một trong những tệ nạn xã hội cần bài trừ, là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người..., là nguyên nhân dẫn tới gia đình ly tán, đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu honda Wave 110S biển kiểm soát 99E1-084.75 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Oppo A31 là của T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Đối với số ma tuý còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Quá trình điều tra, Triệu Văn T còn khai ngày 22/12/2023, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã test nhanh chất ma túy đối với Triệu Văn T. Kết quả T dương tính với chất ma túy Mor. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy này, ngày 04/3/2024, Công an thị xã V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Đối với người nam thanh niên khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,7m, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai đã bán ma túy cho Thụ ngày 25/12/2023. Thụ khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo Điều 329 BLTTHS.
[12] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 25/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “ QT” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- + Trả lại bị cáo Triệu Văn T: 01 xe một tô nhãn hiệu honda Wave 110S, BKS 99E1-084.75; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 số imei 865996048615093.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Tuyết |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
