TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2023/DS - ST
Ngày: 14/8/2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thủy Tiên
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Võ Thanh Nga
- ông Nguyễn Ngọc Bích
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 4
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 4, Tp. xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2023/TLST- DS ngày 09 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 489/2023/QĐST – DS ngày 26 tháng 7 năm 2023 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 490/2023/QĐXX - ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Tp.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T – giấy ủy quyền số 179/2023/GUQ – CNBT ngày 09/5/2023
- Bị đơn: ông Phạm Văn K, sinh năm 1970
Địa chỉ: 2 Đ, Phường A, Quận D, Tp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2022, bản tự khai và các biên bản làm việc tiếp sau đó, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có bà Huỳnh Thị T – là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 21/5/2020, đương sự K có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện các giao dịch từ tháng 06/2020 đến tháng 02/2022 với tổng số tiền là 222.325.979 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 204.864.557 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng ông K vẫn không thiện chí trả nợ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngày 23/7/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 14/8/2023 ông K còn nợ các khoản sau: nợ gốc 30.074.879 đồng, lãi quá hạn 15.169.636 đồng. Tổng cộng 45.244.515 đồng.
Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân đương sự K có trách nhiệm trả khoản nợ, không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng.
Bị đơn Phạm Văn K đã được tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đương sự vắng mặt không có lý do, không có văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa nên Tòa không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận D “ Đ/s Phạm Văn K, sinh năm 1970, HKTT 208/30 Đ, Phường A, Quận D nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ năm 2000 đến nay, không rõ nơi cư ngụ hiện nay”
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; phía bị đơn ông Phạm Văn K vắng mặt lần thứ hai, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung của vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn K trả tiền nợ vay tín dụng. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 21/5/2020, thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn Ngân hàng và ông K đã xác lập quan hệ vay tiền. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông K trả số tiền nợ vay gồm nợ gốc và lãi chậm trả đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xác minh của Công an P, Quận D. Theo đơn khởi kiện, thì người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn nhưng bị đơn không có nơi cư trú ổn định, thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú...thì Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân Quận 4 có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có đơn xin mặt; bị đơn ông Phạm Văn K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Đối với số tiền nợ gốc và lãi: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 21/5/2020 do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và ông Phạm Văn K có quan hệ vay tiền, số tiền vay là 25.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện các giao dịch từ tháng 06/2020 đến tháng 02/2022 với tổng số tiền là 222.325.979 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 204.864.557 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng ông K vẫn không thiện chí trả nợ. Ngày 23/7/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 14/8/2023 ông K còn nợ các khoản sau: nợ gốc 30.074.879 đồng, lãi quá hạn 15.169.636 đồng. Tổng cộng 45.244.515 đồng. Ngân hàng yêu cầu ông K thanh toán toàn bộ khoản tiền trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, việc Ngân hàng yêu cầu ông K trả số tiền nợ gốc và nợ lãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì ông Phạm Văn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.262.226 đồng (hai triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227 và khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Phạm Văn K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/8/2023 nợ gốc 30.074.879 đồng, lãi quá hạn 15.169.636 đồng. Tổng cộng 45.244.515 đồng. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 21/5/2020.
Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 15/8/2023 trở đi ông K còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Về án phí:
Ông Phạm Văn K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.262.226 đồng (hai triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng)
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp là 896.000 đồng (tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017571 ngày 10/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TANDTp. HCM;
- - Đương sự;
- - Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
- - Chi cục THADS Quận 4;
- - Lưu VP – HS.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Thị Thủy Tiên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 112/2023/DS - ST ngày 14/08/2023 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 112/2023/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp. HCM Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thủy – giấy ủy quyền số 179/2023/GUQ – CNBT ngày 09/5/2023 - Bị đơn: ông Phạm Văn Khánh, sinh năm 1970 Địa chỉ: 208/30 Đoàn Văn Bơ, Phường 10, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
