Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. P

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày 12-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đăng Chương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên;

Ông Đỗ Quang Dũng.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Cao Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ HOÀNG S, sinh năm: 1993 tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng K và bà Võ Thị Thu L; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hoàng K, sinh năm: 1960.

Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 25 phút ngày 09/02/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an TP. P phối hợp với Công an xã T tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã T. Khi đến trước Km số 1552, đường Quốc lộ 1A, thuộc thôn Tân S2, xã T thì nhìn thấy Lê Hoàng S có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra thì phát hiện bên trong túi áo khoác bên trái của S có 01 bịch nylon, màu trắng hàn kín các đầu và 01 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính viền màu xanh kích thước tương đương nhau, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Nghi ma túy - Ký hiệu M1, M2). Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của S 01 điện thoại di động, hiệu Samsung Glaxy A30, màu đen.

Quá trình điều tra Lê Hoàng S khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 08/02/2024, S đã đến khu vực ngã tư An Sương, thuộc Quận 12, TP. Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 02 bịch ma túy đá, với số tiền 500.000 đồng. Khi mua được ma túy, S cất giấu vào bên trong túi áo khoác bên trái rồi đến bến xe An Sương, đón xe khách về tỉnh Ninh Thuận. Khoảng 02 giờ 25 phút ngày 09/02/2024, S xuống xe đi bộ đến trước Km số 1552, đường Quốc lộ 1A, thuộc thôn Tân S2, xã T, TP. P thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

* Tại Kết luận giám định số: 66/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận:

Chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1, M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng M1: 0,1185g; M2: 0,2965g (Hoàn trả đối tượng sau giám định: M1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định; M2: 0,1167g và toàn bộ bao gói gửi đến giám định).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.

* Vật chứng của vụ án:

- 01 gói niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận. Bên ngoài có chữ ký xác nhận của Lê Ngọc T1, Trịnh Đình Q, Nguyễn Lê Đức N2, Lê Kỳ K1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định gồm M2: 0,1167g ma túy, loại Methamphetamine.

- 01 điện thoại di động, hiệu Samsung Glaxy A30, màu đen của ông Lê Hoàng K (Sinh năm: 1960, trú tại: Thôn G, xã H, huyện N là cha của Lê Hoàng S), không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho ông K.

Đối với một người phụ nữ đã bán ma túy cho Lê Hoàng S, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 107/CT-VKSPRTC ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Hoàng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hoàng S mức án từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình xin Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hoàng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 02 giờ 25 phút ngày 09/02/2024, tại thôn Tân S2, xã T, TP. P, Lê Hoàng S đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,415g ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của chất ma túy và hình phạt liên quan đến các tội phạm về ma túy là rất nghiêm khắc nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhất là hiện nay tệ nạn ma túy ở nước ta nói chung, ở địa bàn thành phố P nói riêng đã đến mức báo động. Ma túy thật sự trở thành hiểm họa đe dọa đến sức khỏe, cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, gây nhức nhối cho toàn xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình.

Để giữ nghiêm kỷ cương của pháp luật, nhằm thiết lập lại tình hình trị an tại địa phương, thiết nghĩ cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như thế mới có tác dụng giáo dục cải tạo, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Đối với một người phụ nữ đã bán ma túy cho Lê Hoàng S, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định 0,1167g ma túy, loại Methamphetamine là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động, hiệu Samsung Glaxy A30, màu đen của ông Lê Hoàng K (Sinh năm: 1960, trú tại: Thôn G, xã H, huyện N là cha của Lê Hoàng S), không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho ông K là phù hợp.

[7] Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo, xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 09-02-2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận. Bên ngoài có chữ ký xác nhận của các bên liên quan Lê Ngọc T1, Trịnh Đình Q, Nguyễn Lê Đức N1, Lê Kỳ K1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định gồm: M2: 0,1167g ma túy, loại Methamphetamine. Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 10-5-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Hoàng S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. P;
  • - CQĐT Công an TP. P;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS TP. P;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã H;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đăng Chương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Quang Dũng

Trần Hoàng Liên

Dương Đăng Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 09-02-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger