|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích;
Bà Trần Thị Dinh;
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2024/TLST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSST-QĐ ngày 26/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Thị Mai H; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/9/1989 tại Yên Bái. Nơi cư trú: Khu G, xã H, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Số C ngõ B X, tổ I, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Xuân T sinh năm 1963 và bà Hà Thị T1 sinh năm 1964; Tiền án,: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo có chồng là Nguyễn Mạnh H1 sinh năm 1984; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020;
Bị cáo là Đảng viên Đ1 (Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 38-QĐ/UBKT ngày 22/8/2024)
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Thị L; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 07/11/1996 tại Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn M sinh năm 1971 và bà Phùng Thị M1 sinh năm 1971; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo có chồng là Nông Văn H2 sinh năm 1995; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non nên để thuận lợi trong quá trình xin việc nên thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 8/2023 các bị cáo Hoàng Thị Mai H và Hoàng Thị L nảy sinh ý định mua bằng tốt nghiệp cao đẳng giả và đã lần lượt liên hệ với Mai Trọng V (Trú tại: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) để mua bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non.
Ngày 03/8/2023, qua mạng Facebook, Hoàng Thị L thấy có trang quảng cáo làm bằng giả nên đã để lại số điện thoại liên hệ ở phần bình luận. Sau đó có Mai Trọng V đã liên hệ với bị cáo qua zalo về việc mua bán bằng cao đẳng sư phạm mầm non. Hoàng Thị L đã lựa chọn bằng tốt nghiệp cao đẳng danh hiệu Cử nhân thực hành sư phạm mầm non do Trường đại học S cấp, hai bên thống nhất chi phí làm bằng giả và bảng ghi kết quả học tập với giá là 3.000.000 đồng. Đến ngày 09/8/2023 bị cáo Hoàng Thị L nhận được bưu phẩm bên trong có: 01 bằng tốt nghiệp Cao đẳng danh hiệu cử nhân thực hành sư phạm mầm non số hiệu SPMN.A.00002176 do hiệu trưởng GS.TS Nguyễn Văn M2 ký và bảng ghi kết quả học tập mã số 17001CNHN029 do Phó hiệu trưởng T.S Nguyễn Huy Đ ký của Trường Đại học S cấp. Sau khi nhận được bằng tốt nghiệp giả và bảng điểm giả, bị cáo Hoàng Thị L đã photocopy để bổ sung vào hồ sơ xin việc tại Trường mầm non Á, có địa chỉ tại A T, phường K, thành phố L.
Đầu tháng 8 năm 2023 qua mạng Facebook, Hoàng Thị Mai H thấy có trang quảng cáo làm bằng giả nên đã để lại số điện thoại liên hệ ở phần bình luận. Sau đó có Mai Trọng V đã liên hệ với bị cáo qua zalo và hai bên đã trao đổi về việc mua bán bằng cao đẳng sư phạm mầm non. Hoàng Thị Mai H đã lựa chọn bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non do Trường cao đẳng S1 cấp, hai bên thống nhất chi phí làm bằng giả và bảng điểm giả là 3.000.000 đồng. Bị cáo Hoàng Thị Mai H đã nhờ em gái là Hoàng Thị Bích N (sinh năm 1991, trú tại ngõ B, đường V, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội) nhận hộ bưu phẩm và gửi lên cho bị cáo H. Khoảng 02 ngày sau bị cáo H nhận được bưu phẩm bên trong gồm: 01 bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm- sư phạm mầm non số hiệu CD 00009836 do hiệu trưởng PGS.TS Trần Đình T2 ký, 01 bảng điểm do Trưởng phòng đạo tạo PGS.TS Lê Văn T3 ký; 03 bản photocopy từ bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm- sư phạm mầm non số hiệu CD 00009836 đã được công chứng tại phòng công chứng số B thành phố Hà Nội, công chứng viên Nguyễn Thị X công chứng và bị cáo đã thanh toán tiền mặt cho người giao hàng. Đến tháng 9/2023 bị cáo Hoàng Thị Mai H mang 03 bản công chứng bằng tốt nghiệp đã mua được bổ sung vào hồ sơ xin việc tại Trường mầm non T6. Sau đó cơ sở mầm non T7 lưu giữ 01 bản, 01 bản nộp bộ phận Văn hóa xã hội Ủy ban nhân dân phường K, thành phố L, 01 bản nộp đến phòng giáo dục đào tạo thành phố L.
Ngày 05/9/2023 cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Trọng V về hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 2 điều 341 Bộ luật Hình sự đồng thời ủy thác điều tra một số nội dung liên quan đến hành vi trao đổi, mua bán bằng tài liệu giả của Hoàng thị M3 và Hoàng Thị L. Ngày 05/4/2024 Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Q đã tách hành vi sử dụng tài liệu giả của Hoàng Thị Mai H, Hoàng Thị L chuyển Cơ quan An ninh điều tra công an tỉnh L. Đến ngày 08/5/2024 Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh L chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L để điều tra theo thẩm quyền.
Tại công văn 350 ngày 20/5/2024 của Trường Cao đẳng S1 xác định tại Trường không có Phòng đào tạo, không có viên chức là PGS.TS Lê Văn T3.
Tại Công văn 771 ngày 31/5/2024 của Trường Đại học S xác định: Trường Đại học S không có Nguyễn Huy Đ, không cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng.
Theo biên bản làm việc ngày 18/6/2024: Phòng C Hà Nội đã cung cấp thông tin: Phòng công chứng không có công chứng viên nào tên Nguyễn Thị X và trên hệ thống số lưu bản sao không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm- sư phạm mầm non số hiệu CD 00009836 do Trường Cao đẳng S1 cấp cho Hoàng Thị Mai H.
Tại Bản Kết luận giám định số 26/KL-GĐMT ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký mang chức danh “PGS.TS Trần Đình T2” dưới mục “HIỆU TRƯỞNG” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của ông Trần Đình T2 trên tài liệu mẫu so sánh (do T4 Cao đẳng sư phạm Trung ương cung cấp” không phải cùng một người ký ra. 02 con dấu tròn có nội dung “Trường Cao đẳng S1” trên các tài liệu cần giám định với dấu hình tròn có cùng nội dung trên so với tài liệu mẫu so sánh không do cùng một con dấu đóng ra, 02 hình dấu tròn nêu trên được được làm giả bằng phương pháp in phun màu.
Tại Bản Kết luận giám định số 27/KL-GĐMT ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký mang chức danh “GS.TS Nguyễn Văn M2” dưới mục “HIỆU TRƯỞNG” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của ông Nguyễn Văn M2 trên tài liệu mẫu so sánh (do Trường Đại học S cung cấp” không phải cùng một người ký ra. 02 con dấu tròn có nội dung “Trường Đại học S” trên các tài liệu cần giám định với dấu hình tròn có cùung nội dung trên so với tài liệu mẫu so sánh không do cùng một con dấu đóng ra, 02 hình dấu tròn nêu trên được được làm giả bằng phương pháp in phun màu.
Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Hoàng Thị Mai H, Hoàng Thị L về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị Mai H, Hoàng Thị L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 65; Điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Hoàng Thị Mai H, Hoàng Thị L từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng 18 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định. Thời gian tháng 8 năm 2023 thông qua mạng xã hội facebook và zalo các bị cáo Hoàng Thị Mai H, Hoàng Thị L đã có hành vi đặt mua bằng tốt nghiệp cao đẳng giả và bảng điển giả mục đích để sử dụng xin việc tại các cơ sở mầm non trên địa bàn thành phố L. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
[3] Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố L.
Tuy nhiên các bị cáo là đều là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự và nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao các bị cáo cho UBND phường (xã) nơi các bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.
[4] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Hoàng Thị Mai H có ông nội là Hoàng Xuân T5 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; Bị cáo Hoàng Thị L có ông nội Hoàng Đình P được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn. Vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5]Về vật chứng vụ án:
Đối với các tài liệu đã thu giữ gồm: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng danh hiệu cử nhân thực hành sư phạm mầm non số hiệu: SPMN.A.00002176 cấp cho Hoàng Thị L; 01 Bản photocopy bằng tốt nghiệp cao đẳng danh hiệu cử nhân thực hành sư phạm mầm non số hiệu: SPMN.A.00002176; 01 Bảng ghi kết quả học tập mã số 17001CNHN029 mang tên Hoàng Thị L; 01 Bản photocopy bảng ghi kết quả học tập mã số 17001CNHN029; 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm – Sư phạm mầm non số hiệu: CD 00009836 cấp cho Hoàng Thị Mai H; 01 Bảng điểm mang tên Hoàng Thị Mai H; 03 Bản photocopy từ bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm- Sư phạm mầm non số hiệu CD 00009836 đã được công chứng, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[6] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với Mai Trọng V là người trực tiếp trao đổi thỏa thuận với các bị cáo về việc mua bán bằng tốt nghiệp giả và bảng điểm giả, hiện đã bị Cơ quan An ninh điều tra tỉnh Quảng Ninh khởi tố theo quy định, nên không xem xét trách nhiệm hình sự của Mai Trọng V trong vụ án này, xét thấy là phù hợp.
Đối với các cơ sở giáo dục mầm non mà các bị cáo đã sử dụng bằng tốt nghiệp giả để bổ sung hồ sơ xin việc. Quá trình giải quyết vụ án xác định các cơ sở mầm non không biết và không liên quan đến hành vi sử dụng tài liệu giả của các bị cáo nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với Hoàng Thị Bích N là người nhận hộ bưu phẩm chứa tài liệu giả cho bị cáo Hoàng Thị Mai H. Quá trình điều tra xác định, chị N không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy là phù hợp.
Đối với hai chiếc điện thoại của các bị cáo sử dụng để liên hệ với Mai Trọng V để mua tài liệu giả. Quá trình giải quyết vụ án hai chiếc điện thoại trên các bị cáo đã làm mất nên cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[7] Về đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo:
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và hình phạt, về vật chứng là phù hợp.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị Mai H, bị cáo Hoàng Thị L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị Mai H, Hoàng Thị L phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Mai H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND phường K, thành phố L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, thành phố L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng danh hiệu cử nhân thực hành sư phạm mầm non số hiệu: SPMN.A.00002176 cấp cho Hoàng Thị L;
- - 01 Bản photocopy bằng tốt nghiệp cao đẳng danh hiệu cử nhân thực hành sư phạm mầm non số hiệu: SPMN.A.00002176;
- - 01 Bảng ghi kết quả học tập mã số 17001CNHN029 mang tên Hoàng Thị L;
- - 01 Bản photocopy bảng ghi kết quả học tập mã số 17001CNHN029;
- - 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm – Sư phạm mầm non số hiệu: CD 00009836 cấp cho Hoàng Thị Mai H;
- - 01 Bảng điểm mang tên Hoàng Thị Mai H;
- - 03 Bản photocopy từ bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm- Sư phạm mầm non số hiệu CD 00009836 đã được công chứng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Ngọc Bích Trần Thanh Phương |
THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Anh |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng T Mai H, Hoàng Thị L sử dụng tài liệu của cơ quan
