|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST
Ngày 10/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Ông Nguyễn Văn Bảng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo: Trương Thị T, sinh năm 1997, tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Căn hộ B, chung cư D, tổ dân phố N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở: Căn hộ R Vinhomes O, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; con ông Trương Văn N, sinh năm 1970 và bà Giáp Thị T1, sinh năm 1975; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ nhất; Bị cáo chưa đăng ký kết hôn, có 03 con, 02 con sinh đôi năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
(Bị cáo hiện đang tại ngoại tại, có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Minh K, sinh năm 1988.
- Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Trương Văn H, sinh năm 1988
- Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Lê Văn H1, sinh năm 2001
- Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Trần Văn T2, sinh năm 1992
- Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Anh Đặng Văn H2, sinh năm 1990
- Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- - Anh Nguyễn Trí T3, sinh năm 1981
- Địa chỉ: D, đường L, tổ dân phố N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Anh K và anh H có mặt, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác đều vắng mặt)
* Người làm chứng:
- - Ông Trần Văn C, sinh năm 1971
- Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2022 đến tháng 4/2023, Trương Thị T, sinh năm 1997 (nơi đăng ký NKTT: Căn hộ B1104, chung cư D, tổ dân phố N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Căn hộ R Vinhomes O, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội) làm dịch vụ đổi tiền tại số A S nathong, R, B, Thái Lan. Trong thời gian làm việc tại Thái Lan, T quen biết một người đàn ông tên là H, giới thiệu nhà ở xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Khoảng đầu năm 2023, H trao đổi với T về việc có đơn hàng tuyển lao động người Việt Nam, địa điểm làm việc tại Myanmar, công việc là tư vấn khách hàng đầu tư tài chính, mức lương 20.000.000 đồng/tháng, tiền đặt cọc là 30.000.000đ/người, tiền đi là 30.000.000đ/người, tiền về 30.000.000đ/người, thời gian thử việc 03 tháng, nếu làm việc hết 01 năm sẽ được Công ty chi trả toàn bộ chi phí đi lại và trả lại tiền cọc, nếu không làm hết thời hạn 01 năm mà muốn về thì lao động sẽ phải trả toàn bộ chi phí đi lại và mất số tiền cọc. Tuy nhiên thời gian này, tình hình chính trị ở Myanmar đang phức tạp nên không đưa trực tiếp lao động sang Myanmar được, phải đi qua Thái lan. H bảo T đưa lao động nhập cảnh vào Thái Lan bằng hình thức du lịch, H sẽ bố trí đón và đưa người lao động sang Myanmar, mỗi lao động đưa sang làm việc từ 03 tháng trở lên H sẽ trả công cho T 500USD/người. T đồng ý và đăng lên tài khoản Facebook, Z của T có tên là “Cô C1”, nội dung tuyển người sang Thái Lan, M lao động với công việc, mức lương như H trao đổi.
Sau khi đăng tin tuyển người lao động, khoảng tháng 02/2023, T thấy có Lê Minh K, sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trương Văn H, sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lê Văn H1, sinh năm 2001, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang liên hệ với T để nhờ đưa đi lao động. T đồng ý và bảo những người này đến gặp T tại tầng 1, Chung cư D ở phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để trao đổi cụ thể. Khi gặp gỡ, T nói lại cho họ biết về công việc, mức lương, địa điểm làm việc, hình thức đi như H đã trao đổi, nếu ai đồng ý đi thì chuẩn bị hộ chiếu, thẻ căn cước và tiền đặt cọc, chi phí đi để T bố trí, sắp xếp.
Ngày 16/02/2023, Trương Văn H, Lê Văn H1 đến gặp T, cung cấp ảnh hộ chiếu, căn cước công dân để T làm thủ tục xuất cảnh và đề nghị T cho nợ số tiền đặt cọc, chi phí đi, ứng cho H 10 triệu đồng, H1 05 triệu đồng, T đồng ý và thoả thuận số tiền này sẽ được trừ vào lương.
Ngày 17/02/2023, Lê Minh K đến gặp T, cung cấp ảnh hộ chiếu, căn cước công dân và đưa cho T 30 triệu đồng tiền đặt cọc và nợ chi phí đi.
Ngày 18/02/2023, Trần Văn T2, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc liên hệ với T để xin đi lao động, T2 cũng được T tư vấn về nội dung công việc tại Myanmar như đã trao đổi với K, H, H1. Do không có tiền nên T2 xin nợ số tiền đặt cọc, tiền chi phí đi, khi nào sang Myanmar lao động sẽ trừ vào lương, T đồng ý và bảo T2 gửi cho T ảnh chụp hộ chiếu, Căn cước công dân để làm thủ tục xuất cảnh.
Sau khi có được thông tin của H, H1, K, T2, T liên hệ với Đặng Văn H2, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đặt vé máy bay, mua bảo hiểm du lịch và đặt phòng khách sạn, thuê dịch vụ hỗ trợ làm thủ tục nhập cảnh vào Thái Lan và đề nghị với H2 là sau khi những người này nhập cảnh vào Thái Lan thì hủy vé máy bay chiều về để không phải trả toàn bộ chi phí vé máy bay. Hoan đặt vé và thông báo cho T biết ngày 20/02/2023 sẽ từ sân bay N bay sang Băng K Thái Lan. Thơm thông báo, gửi cho K, H, H1, Tiến mã code vé máy bay và hẹn sáng 20/02/2023 có mặt tại Chung cư D ở phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, T sẽ bố trí xe đưa ra sân bay N. Để đưa người lao động ra sân bay và hỗ trợ thủ tục xuất cảnh, T thuê Nguyễn Trí T3, sinh năm 1981 ở tổ dân phố N, phường X, thành phố B đến chở người lao động ra sây bay, đồng thời tạo lập nhóm Zalo có tên là “Bay 20/02” (nhóm gồm 07 thành viên: Thơm, H2, T3, Trương Văn H, T2, H1, K). Buổi sáng 20/02/2023, Trương Văn H, K, T2, H1 tập trung tại tầng 1 Chung cư D, T đưa cho mỗi người 300USD và dặn đây là tiền để chứng minh tài chính khi làm thủ tục xuất cảnh, mọi người phải tự làm thủ tục, nếu ai hỏi thì phải nói là đi du lịch tại Thái Lan, đi đến đâu thì chụp ảnh gửi lên nhóm để thông báo cho T biết, nếu có vấn đề gì về việc xuất cảnh, nhập cảnh thì nhắn tin lên nhóm sẽ được H2 hỗ trợ giải quyết. Sau đó, T3 lái xe ô tô đưa Trương Văn H, K, T2, H1 (04 người) đến sân bay N. Khi T2 và K làm thủ tục xuất cảnh, thì số tiền 300 USD Thơm đưa không đủ để chứng minh tài chính, T2 nhờ T3 điện thoại báo cho T biết, T3 điện thoại cho T thông báo việc những người đi không đủ tiền để chứng minh tài chính, T chuyển khoản cho T3 20 triệu đồng, nhờ T3 rút tiền đưa thêm cho 04 người, đồng thời cũng nhờ T3 khi 04 người làm thủ tục xuất cảnh xong thì bảo họ đưa lại toàn bộ số tiền (gồm 300 USD và tiền đưa thêm), cầm về cho T. Sau khi hoàn tất thủ tục, khi 04 lao động trên đường di chuyển ra cửa kiểm tra an ninh, 04 người lao động đưa lại cho T3 toàn bộ số tiền T đã đưa để chứng minh tài chính, T3 cầm tiền đi về đưa lại cho T, còn 04 người lao động lên máy bay sang Thái Lan. Toàn bộ quá trình di chuyển của 04 người lao động, T khai đều nhắn tin qua ứng dụng Tiger (phần mềm ứng dụng của Thái Lan) thông báo cho H bên Thái Lan biết để bố trí người đón.
Khi lao động hạ cánh tại sân bay T, H2 liên hệ nhờ người làm thủ tục nhập cảnh cho 04 lao động và hủy vé máy bay chiều về như trao đổi ban đầu của T. Những người lao động khai, khi ra đến cửa sân bay thì có một người phụ nữ người Thái Lan mang biển tên đón 04 lao động, đưa ra một xe taxi, chở đến một khách sạn gần biên giới Myanmar, thuê phòng nghỉ ngơi. Buổi sáng hôm sau, có 01 người phụ nữ Thái Lan khác đến khách sạn và đưa 04 người đến một nhà lán ở gần biên giới, rồi một người đàn ông đưa qua sông vượt biên sang Myanmar. Sau khi sang đến Myanmar thì 04 người được đưa đến một Công ty do người Trung Quốc quản lý. Tại đây, cả 04 người được bố trí ăn nghỉ và hướng dẫn sử dụng các mạng xã hội Zalo, Facebook, tiktok .v.v. để làm quen với những người Việt Nam, tạo niềm tin và mời chào họ đầu tư vào các trang thương mại điện tử, sàn tiền ảo (thực chất là các ứng dụng lừa đảo do người Trung Quốc tạo lập, quản lý). Sau khi đưa được 04 người lao động sang Myanmar lao động, T khai được H (đối tượng nhận người bên Thái Lan) đến cửa hàng đổi tiền của T, gửi cho T 90 triệu đồng, T trừ chi phí mua vé máy bay, thuê xe ô tô và số tiền Trương Văn H, H1 ứng trước, T được hưởng lợi 3,5 triệu đồng. Quá trình điều tra T đã nộp lại số tiền này.
Sau khi làm việc đến khoảng ngày 07/3/2023, Trương Văn H liên hệ với T đề nghị cho về Việt Nam, do đã thỏa thuận từ trước nếu không làm hết thời hạn 01 năm thì sẽ mất toàn bộ chi phí (tiền đi, tiền về, tiền đặt cọc). Do không có tiền, nên Trương Văn H trao đổi sẽ chuyển trước cho T 30.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi về Việt Nam sẽ trả lại cho T, T đồng ý. Ngày 11/3/2023, Trương Văn H chuyển cho T số tiền 30.000.000 đồng, T chuyển toàn bộ số tiền này cho H (đối tượng nhận người bên Thái Lan) và trao đổi đưa Trương Văn H về Việt Nam. T khai đã ứng ra 25 triệu đồng chuyển cho H2, để H2 mua vé máy bay cho Trương Văn H về Việt Nam vào ngày 13/3/2023.
Ngày 16/3/2023, K liên hệ với T để xin về Việt Nam, T yêu cầu K đóng số tiền đi, tiền về, tổng số là 60.000.000 đồng (do K đã đóng trước số tiền cọc 30.000.000 đồng), K đồng ý và nhờ T trao đổi với Công ty T4 K đã làm, T trao đổi với H (đối tượng nhận người bên Thái Lan) về tiền lương của K và việc đưa K về Việt Nam, H thông báo tiền lương của K được 12.000.000 đồng. T bảo K nộp số tiền 48.000.000 đồng. Ngày 18/3/2023, K chuyển khoản cho T 48.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của K, T chuyển cho H (đối tượng nhận người bên Thái Lan) 18 triệu đồng, chuyển cho H2 25 triệu đồng, để H2 đặt vé máy bay cho K về Việt Nam. T được hưởng lợi 05 triệu đồng, quá trình điều tra T đã nộp lại số tiền này.
Sau khi làm việc được một thời gian, lợi dụng sơ hở của người Trung Quốc, H1 trốn ra ngoài, nhờ người dân đưa đến đồn cảnh sát tại Thái Lan, và được cảnh sát thuê tắc xi đưa ra sân bay tại B, H1 nhờ người nhà đặt vé máy bay về Việt Nam vào ngày 31/3/2023, còn T2 tiếp tục làm việc tại Công ty. Tuy nhiên, do không làm đủ chỉ tiêu theo yêu cầu nên thường xuyên bị bắt nhốt và đánh đập. T2 liên lạc với bố đẻ là ông Trần Văn C, sinh năm 1971, trú tại thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nhờ làm đơn tố cáo Trương Thị T.
Ngày 19/10/2023, ông C làm đơn tố cáo Thơm gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V. Sau khi xác minh, xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngày 26/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền; ngày 18/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B chuyển vụ việc cho Cơ quan An ninh điều tra để giải quyết. Ngày 15/01/2024, T2 khai được phía Công ty nơi T2 làm việc đưa ra sân bay về Việt Nam.
Đối với H (đối tượng nhận người bên Thái Lan), Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại địa phương như T khai nhưng không có kết quả; ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng này.
Đối với Đặng Văn H2, Nguyễn Trí T3 đều không biết T đưa Trương Văn H, H1, T2, K sang Myanmar lao động bất hợp pháp, nên không đồng phạm với T về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
Đối với Trương Văn H, Lê Văn H1, Trần Văn T2, Lê Minh K có hành vi trốn sang Myanmar lao động bất hợp pháp và đều khai làm công việc lừa đảo qua mạng, tuy nhiên việc vi phạm pháp luật được thực hiện ở Myanmar nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Hành vi nhập cảnh vào Thái Lan là hợp pháp, còn hành vi vượt biên trái phép từ Thái Lan sang Myanmar, không thuộc phạm vi biên giới Việt Nam nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về số vật chứng đã thu giữ: 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng) Thơm giao nộp, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 04 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo T về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh K và anh H đều khai đã xuất cảnh sang Thái Lan theo thỏa thuận với bị cáo T, nhưng không biết sẽ được đưa sang Myanmar, sau khi nhập cảnh vào Thái Lan thì bị đưa sang Myanmar và bị ép làm việc lừa đảo qua mạng nên đã liên lạc cho bị cáo T và được đưa về Việt Nam. Tại cơ quan điều tra và quá trình truy tố anh K và anh H không yêu cầu giải quyết về vấn đề bồi thường dân sự.
Người làm chứng là ông C khai: Ông là bố của anh Lê Văn H1, anh H1 nghe bị cáo T nói sang Thái Lan làm việc, nhưng sau đó được T đưa sang Myanmar làm công việc lừa đảo quan mạng, do anh H1 không muốn làm nên đã bị người phía công ty bên Myanmar nhốt và đánh đập, anh H1 đã gọi về nhà cho ông và ông đã tố cáo bị cáo T ra cơ quan điều tra.
Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt; bị cáo không có ý kiến gì về những lời trình bày này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 349; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao.
- - Xử phạt bị cáo Trương Thị T từ 20 tháng đến 26 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 40 tháng đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo Trương Thị T từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
- - Giao bị cáo T cho UBND thị trấn T, huyện G, Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo T giao nộp.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội sửa chữa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do vậy, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử vắng mặt những người này.
[3] Về hành vi của bị cáo theo Cáo trạng truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Ngày 20/02/2023, bị cáo Trương Thị T đã tổ chức đưa 04 người gồm: Lê Minh K, sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trương Văn H, sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lê Văn H1, sinh năm 2001, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Trần Văn T2, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xuất cảnh sang Thái Lan, rồi từ Thái Lan vượt biên trái phép sang Myanmar lao động bất hợp pháp.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh theo các điều khản nêu trên là có căn cứ.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mục đích lợi nhuận bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực quản lý dân cư, quản lý hoạt động xuất nhập cảnh được pháp luật bảo vệ, nên cần xét xử tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị Tòa án nào xét xử về tội gì và chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xử lý hành chính.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong quá trình điều tra bị cáo mang thai điều trị tại Bệnh viện Đ, bản thân bị cáo được Ban chấp hành huyện đoàn Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tặng Giấy khen có thành tích trong công tác tình nguyện và Hội liên hiệp phụ nữ huyện S, tỉnh Bắc Giang tặng Giấy khen vì có nhiều thành tích trong công tác thiện nguyện trên địa bàn huyện S năm 2023; Em ruột của ông nội bị cáo là liệt sỹ được Nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba nên bị các được áp dụng quy định tại điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt.
[8] Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thấy không cần bắt bị cáo phải chịu hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo thì bị cáo cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thuộc trường hợp hộ nghèo hay có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên cần áp dụng khoản 4 Điều 349 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng tiền để sung ngân sách Nhà nước.
[10] Về vật chứng: Bị cáo thu lợi từ hành vi phạm tội số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng), trong quá trình điều tra bị cáo đã nộp lại 8.500.000 đồng, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền này.
[11] Về các vấn đề khác có liên quan:
- - Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Do những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự trong quá trình điều tra, truy tố, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Trường hợp có yêu cầu sẽ được xem xét bằng vụ án dân sự khác.
- - Đối với H (đối tượng nhận người bên Thái Lan), Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại địa phương như T khai nhưng không có kết quả; ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Đối với Đặng Văn H2, Nguyễn Trí T3, quá trình điều tra xác định đều Đặng Văn H2, Nguyễn Trí T3 không biết T đưa Trương Văn H, H1, T2, K sang Myanmar lao động bất hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét hành vi của Đặng Văn H2, Nguyễn Trí T3, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Đối với Trương Văn H, Lê Văn H1, Trần Văn T2, Lê Minh K có hành vi trốn sang Myanmar lao động bất hợp pháp và đều khai làm công việc lừa đảo qua mạng, nhưng hành vi được thực hiện ở Myanmar nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Hành vi nhập cảnh vào Thái Lan là hợp pháp, còn hành vi vượt biên trái phép từ Thái Lan sang Myanmar, không thuộc phạm vi biên giới Việt Nam nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
[14] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 349; điểm b khoản 1 Điều 47; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh và hình phạt :
- - Xử phạt bị cáo Trương Thị T 02 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo Trương Thị T 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
- - Giao bị cáo T cho UBND thị trấn T, huyện G, Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
- - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Trương Thị T chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Mạnh Thắng |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Bắc Giang ;
- - CQCSĐT-CA tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND thành phố Bắc Giang;
- - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
- - Sở tư pháp;
- - Bị cáo;
- - Những người tham gia tố tụng khác;
- - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú;
- - Lưu hồ sơ, văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
