|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/DS - ST
Ngày: 07/6/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thủy Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Điệp
- Ông Trần Văn Hiệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 4
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên
Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 4, Tp. xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 269/2023/TLST- DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 416a/2024/QÐST – DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146b/2024/QĐXX - ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
- Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Tp.
- ĐCLL: 370 N, Phường T, Quận G, Tp.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn D
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1988
- HKTT: C T, Phường A, Quận D, Tp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai và các biên bản làm việc tiếp sau đó, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ông Nguyễn Văn D trình bày:
Ngày 02/12/2021, bà N có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng gọi chung là hợp đồng. Căn cứ thu nhập của đương sự Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 129.578.781 đồng, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 103.103.026 đồng. Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng bà N vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 24/6/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16/4/2024, bà N còn nợ các khoản sau: nợ gốc 48.424.182 đồng, lãi quá hạn 18.818.851 đồng. Tổng cộng 67.243.033 đồng. Tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà N có trách nhiệm trả khoản nợ, không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ. Không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận D “ Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1988 có đăng ký thường trú tại C T, Phường A, Quận D nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Nơi tạm trú C khu phố C, thị trấn T, huyện B ”
Kết quả xác minh của Công an thị trấn T, huyện B “Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1988 tạm trú C10/22A khu phố C, thị trấn T, huyện B nhưng hiện tại không có mặt tại nơi đăng ký tạm trú"
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; phía bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N vắng mặt lần thứ hai, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung của vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim N trả tiền nợ thẻ tín dụng. Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng gọi chung là hợp đồng ngày 02/12/2021, thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bà N đã xác lập quan hệ vay tiền hình thức thẻ tín dụng. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền nợ thẻ tín dụng gồm nợ gốc và lãi chậm trả đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xác minh của Công an P, Quận D và Công an thị trấn T, huyện B. Theo đơn khởi kiện, thì người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn nhưng bị đơn không có nơi cư trú ổn định, thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú...thì Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân Quận 4 có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Xét, đề nghị của nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà N có trách nhiệm trả khoản nợ không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Đối với số tiền nợ gốc và lãi: Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng gọi chung là hợp đồng ngày 02/12/2021 do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Thị Kim N có quan hệ vay mượn tiền với hình thức mở thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 129.578.781 đồng, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 103.103.026 đồng. Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng bà N vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 16/4/2024, bà N còn nợ các khoản sau: nợ gốc 48.424.182 đồng, lãi quá hạn 18.818.851 đồng. Tổng cộng 67.243.033 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà N thanh toán toàn bộ khoản tiền trên. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bà N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, việc Ngân hàng yêu cầu bà N trả số tiền nợ gốc và nợ lãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.362.152 đồng (ba triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn một trăm năm mươi hai đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm e khoản 1 Điều 192; Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227 và khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
- - Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tạm tính đến ngày 16/4/2024 gồm: nợ gốc 48.424.182 đồng, lãi quá hạn 18.818.851 đồng. Tổng cộng 67.243.033 đồng. Theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng gọi chung là hợp đồng ngày 02/12/2021.
Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 17/4/2024 trở đi bà N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại các Hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ.
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Kim N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 3.362.152 đồng (ba triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn một trăm năm mươi hai đồng)
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp là 1.365.000 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042602 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Thị Thủy Tiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 112/2024/DS - ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 112/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
