Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 06-09-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện

Bà Nguyễn Minh Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2024/TLST- HS, ngày 06 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 08 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Lê N, sinh ngày 18 tháng 06 năm 2001 tại Nghệ An; ĐKHKTT: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Số G N, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N1; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 06/12/2023 đến ngày ngày 13/12/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.

2. Phạm Thanh T1, sinh ngày 13 tháng 03 năm 1987 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và nơi ở: Số C G L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Y và bà Trần Thị Bích L; có vợ là Trần Thị Thu H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008; tiền án: Bản án số 80/2015/HSST ngày 04/9/2015 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (đã xóa); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 06/12/2023 đến ngày ngày 13/12/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.

3. Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1990 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và nơi ở: số D Đ, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L1 và bà Lưu Thị T2; chồng là Hoàng Văn T3 (đã ly hôn), có 02 con: con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/12/2023 đến ngày 13/12/2023 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Tuấn Đ, sinh năm 2000; địa chỉ : Số A D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H1:

Luật sư Nguyễn Anh V - thuộc Công ty L2. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0 0 giờ ngày 06/12/2023, Nguyễn Thị Thu H1 nhắn tin trên Messenger Facebook rủ Nguyễn Lê N đến nhà H1 để ăn đêm, N đồng ý và rủ Trần Tuấn Đ đi cùng. Một lúc sau, Đ đến đón, chở N đi mua đồ ăn rồi cả hai đến nhà H1 ở số D Đ, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Khi đến nơi, Phạm Thanh T1 cũng đang ở đây. Cả nhóm ngồi ăn uống đến khoảng 02 giờ 30 phút thì T1 có nhu cầu sử dụng bóng cười nên N đã liên hệ với một người tên T (chưa xác định được lai lịch) qua Telegram để hỏi mua xác bóng thì T bảo không có, chỉ có 01 gam ketamine giá 1.200.000 đồng. Lúc này, N nảy sinh ý định mua ma túy ketamine để cả nhóm sử dụng nên đồng ý mua ma túy của T. T cung cấp số tài khoản 2610188229999 thuộc ngân hàng M mang tên Nguyen Van T4 và yêu cầu N chuyển tiền, N dùng số tài khoản 998818062001 thuộc ngân hàng M của mình chuyển đến số tài khoản ngân hàng T cung cấp số tiền 900.000 đồng và bảo khi nào giao ma tuý đến địa chỉ số D Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì sẽ trả nốt 300.000 đồng tiền mặt. Đặt ma túy xong, N kể với H1 về việc này nhưng H1 không nói gì. Đến khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày thì có 01 người đàn ông không quen biết giao ma tuý đến nhà H1, N là người ra nhận ma túy thì được người này đưa 01 túi nilon bên trong đựng 01 cốc nước, dưới đáy cốc có 02 gói nilon đựng ma túy ketamine. Nhận ma túy xong, N trả cho người này số tiền 300.000 đồng rồi cầm vào nhà. Khi vào nhà thì H1 đang dọn dẹp, N nói với H1 “chị ơi nó còn cho cả cốc nước này” đồng thời đưa cho H1 cốc nước để vứt đi. Sau đó, N cầm gói ma túy ketamine và lấy 01 ống hút nhựa ở rổ bát nhà H1 rồi đi lên phòng ngủ tầng 2 để xuống sàn nhà. Lúc này, trong phòng có T1 và Đ đang nằm ở đệm. N nói với T1: “Em để 02 gói ke ở đây nhé” ý là nhờ T1 xào ke cho cả nhóm sử dụng. Nghe N nói vậy, T1 đi xuống tầng 1 lấy 01 đĩa sứ màu trắng lên phòng rồi dùng máy sấy tóc có sẵn trong phòng hơ cho nóng đĩa rồi cầm 01 gói ma túy ketamine đổ hết ra đĩa và dùng thẻ nhựa có sẵn trong phòng để xào ke, còn N kết nối loa bluetooth với điện thoại Iphone 8 Plus của H1 để sẵn trong phòng rồi bật nhạc để phục vụ việc sử dụng ma tuý. Sau khi T1 xào ketamine xong thì để đĩa ma túy ở góc phòng, lúc này H1 dọn dẹp xong đi lên phòng, N thấy H1 là người sử dụng ketamine đầu tiên bằng cách vào cơ thể qua đường mũi. Sau đó, Đ và N cũng tự sử dụng tương tự như vậy. T1 là người sử dụng cuối cùng bằng cách dùng ống hút xúc ma tuý ketamine ở đĩa rồi cho vào mồm rồi nuốt vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, N, T1 và Đ nằm ở đệm nghe nhạc. H1 ngồi ở phòng và hút bóng cười một lúc thì sang phòng đối diện ngủ cùng con trai. Đến khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày, khi H1 mở cửa để con trai đi học thì đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận H, thành phố Hải Phòng vào kiểm tra hành chính, bắt quả tang. Ngoài ra, các bị cáo khai không có sự bàn bạc từ trước về việc sử dụng ma túy, số tiền mua ma túy là tiền của N, không ai trong nhóm góp tiền mua chung. Số ma túy còn lại cả nhóm sẽ sử dụng hết nếu không bị bắt quả tang.

Cơ quan Công an đã lập biên bản quả tang và thu giữ tại sàn phòng ngủ tầng 2: 01 đĩa sứ màu trắng (mẫu số 5) bên trên có tinh thể màu trắng (mẫu số 1), 01 thẻ nhựa cứng bám dính tinh thể màu trắng (mẫu số 2), 01 ống hút nhựa dài 12cm có bám dính tinh thể màu trắng (mẫu số 3); thu giữ trên mặt ghế nhựa cạnh cửa ra vào: 01 túi nilon KT: 2,5x2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 4); 01 túi nilon KT: 2,5x2,5cm bên trong có bám dính tinh thể màu trắng (mẫu số 6), 01 đèn nháy, 01 loa mini. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ 01 máy sấy tóc khi tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Thu H1; tạm giữ của Nguyễn Lê N 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu trắng, tạm giữ của Phạm Thanh T1 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đồng, tạm giữ của Nguyễn Thị Thu H1 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng, tạm giữ của Trần Tuấn Đ 01 điện thoại Xiaomi Mi 9T Pro màu đen.

Tại Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Phòng K - Công an Thành phố H ngày 06/12/2023 kết luận: Nguyễn Lê N, Nguyễn Thị Thu H1, Phạm Thanh T1Trần Tuấn Đ đều dương tính với Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 993/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H (bút lục 72) kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,04 gam loại Ketamine; tinh thể màu trắng bám dính của mẫu số 2, 3, 6 gửi giám định là ma túy Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng ma túy bám dính; tinh thể màu trắng của mẫu số 4 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,25 gam loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Phát hiện 09 dấu vết đường vân trên đĩa sứ thu giữ (mẫu số 5), ký hiệu các dấu vết này lần lượt là DV1 đến DV9 trong đó: Dấu vết đường vân ký hiệu DV1 với dấu vân tay in tại ô Cái phải trên danh chỉ bản mang tên Trần Tuấn Đ là của cùng một người; dấu vết đường vân ký hiệu DV2 với dấu vân tay in tại ô Giữa trái trên danh chỉ bản mang tên Nguyễn Lê Na là của cùng một người; dấu vết đường vân ký hiệu DV3 và dấu vân tay in tại ô Cái trái trên danh chỉ bản mang tên Phạm Thanh T1 là của cùng một người; các dấu vết đường vân ký hiệu từ DV4 đến DV9 mờ nhòe, không đủ yếu tố giám định

Kiểm tra chi tiết dữ liệu các điện thoại thu giữ và kết luận giám định phục hồi dữ liệu điện thoại của Nguyễn Lê N xác định có việc Nguyễn Lê N chuyển khoản 900.000 đồng từ số tài khoản 998818062001 thuộc ngân hàng M của Nguyễn Lê N đến số tài khoản 2610188229999 thuộc ngân hàng M mang tên Nguyễn Văn T (sinh ngày 17/7/2001; trú tại: số E tổ C phường T, quận H, thành phố Hải Phòng) và số điện thoại 0904.492.xxx của đối tượng giao ma túy cho Nguyễn Lê Na . Qua điều tra, xác định chủ thuê bao số điện thoại trên là Hòa Trần Minh T5 (sinh ngày 25/5/1998, địa chỉ: phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên). Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn T và H2 Trần Minh T5 không sử dụng số tài khoản ngân hàng và số điện thoại trên, không quen biết, không phải là đối tượng đã bán và giao ma túy cho Nguyễn Lê Na .

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Lê N, Nguyễn Thị Thu H1, Phạm Thanh T1 khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 05 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố các bị cáo Nguyễn Lê N, Nguyễn Thị Thu H1, Phạm Thanh T1 về tội Tổ chức sử dụng phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đối với Trần Tuấn Đ, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108 ngày 28/6/2024 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với khối lượng ma túy cơ quan Công an đã thu giữ gồm 0,29 gam Ketamine, tài liệu điều tra xác định được số ma tuý trên Nguyễn Lê N và các đối tượng đang sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết thì bị bắt quả tang nên không xử lý các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với các đối tượng bán ma túy và giao ma túy cho Nguyễn Lê N chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 có hoàn cảnh khó khăn, một mình nuôi hai con nhỏ (trong đó có 01 con dưới 36 tháng tuổi) nên cần cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Lê N, Phạm Thanh T1 mức án từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2023.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, trừ cho bị cáo 07 ngày bị bắt tạm giữ (từ ngày 06/12/2023 đến ngày 13/12/2023).

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 993MT/PC09 chứa 0,17 gam tinh thể màu trắng của mẫu số 4 cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu 1; 01 phong bì niêm phong sau giám định số 993MT-B/PC09 chứa 01 đoạn ống hút của mẫu 3; 01 túi niêm phong PS2 có mã số 2123299 của Phòng K gồm 01 đĩa sứ mẫu 5, 01 thẻ nhựa mẫu 2, 01 vỏ túi nilon mẫu 4 và 01 vỏ túi nilon mẫu 6.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 đèn nháy, 01 loa mini, 01 máy sấy tóc, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu trắng của Nguyễn Lê N, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng của Nguyễn Thị Thu H1.

Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đồng cho bị cáo Phạm Thanh T1, 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu xanh cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H1, 01 điện thoại Xiaomi Mi 9T Pro màu đen cho Trần Tuấn Đ

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H1: đồng ý về việc xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo H1 mà Đại diện viện kiểm sát đã nêu trong bản luận tội. Tuy nhiên cần xem xét về điều kiện và hoàn cảnh của bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 hiện tại đang phải nuôi 2 con nhỏ, trong đó có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bản thân bị cáo cũng đã khuyên ngăn bị cáo N dừng việc mua ma tuý về sử dụng vì vậy đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt hoặc dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ, bản kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng, người làm chứng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 03 giờ 20 phút đến 06 giờ 20 phút ngày 06/12/2023, tại phòng ngủ tầng 2 nhà số D Đ, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng của Nguyễn Thị Thu H1, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận H bắt quả tang Nguyễn Lê N, Nguyễn Thị Thu H1Phạm Thanh T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, Nguyễn Lê N là người đã nảy sinh ý định sử dụng ma túy, trực tiếp giao dịch dùng tiền của mình mua 1.200.000 đồng ma túy ketamine, chuẩn bị ống hút ma túy, bật nhạc; Nguyễn Thị Thu H1 cung cấp địa điểm là nhà ở thuộc quyền quản lý của mình; Phạm Thanh T1 chuẩn bị công cụ gồm đĩa sứ, thẻ nhựa, chế biến ma túy ketamine để cả nhóm và Trần Tuấn Đ cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Lê N, Nguyễn Thị Thu H1Phạm Thanh T1 đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính chất nghiêm trọng của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là việc lôi kéo, cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho người khác sử dụng ma túy. Qua đó đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng đối với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về nhân thân và vai trò của các bị cáo:

Các bị cáo Nguyễn Lê NNguyễn Thị Thu H1 chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Phạm Thanh T1 đã có 1 tiền án: Tại bản án số 80/2015/HSST ngày 04/9/2015 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

Đây là vụ án đồng phạm, nhưng mang tính giản đơn, hành động bộc phát, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, mà cùng nhau thực hiện tội phạm. Bị cáo N là người khởi xướng và là người bỏ toàn bộ số tiền để mua ma túy cho đồng bọn sử dụng, bị cáo T1 chuẩn bị dụng cụ và nghiền nhỏ ma túy ketamine để cho cả nhóm sử dụng ma tuý, bị cáo H1 có nhà để cho đồng bọn tổ chức sử dụng ma tuý tại nhà của bị cáo. Xem xét đánh giá về nhân thân và mức độ phạm tội của bị cáo N và bị cáo T1 cao hơn bị cáo H1 nên mức hình phạt của bị cáo N và bị cáo T1 cao hơn so với bị cáo H1.

[5] Các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Lê N, Phạm Thanh T1Nguyễn Thị Thu H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra đối với bị cáo H1 hiện tại đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt chính: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong sau giám định số 993MT/PC09 chứa vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định của mẫu 1 và mẫu 4; 01 phong bì niêm phong sau giám định số 993MT-B/PC09 chứa 01 đoạn ống hút của mẫu 3; 01 túi niêm phong PS2 có mã số 2123299 của Phòng K gồm 01 đĩa sứ mẫu 5, 01 thẻ nhựa mẫu 2, 01 vỏ túi nilon mẫu 4 và 01 vỏ túi nilon mẫu 6 là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 đèn nháy, 01 loa mini, 01 máy sấy tóc, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu trắng của Nguyễn Lê N, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng của Nguyễn Thị Thu H1 là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đồng của bị cáo T1, 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu xanh của bị cáo H1, 01 điện thoại Xiaomi Mi 9T Pro màu đen của anh Trần Tuấn Đ không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo T1, bị cáo H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Tuấn Đ.

[10] Đối với Trần Tuấn Đ, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108 ngày 28/6/2024 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

[11] Đối với 0,29 gam ma túy ketamine cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường, các bị can khai nhận sẽ tiếp tục sử dụng hết nếu không bị bắt quả tang, lượng ma túy không đủ cấu thành tội phạm do đó không có căn cứ xử lý các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[12] Đối với các đối tượng bán ma túy và giao ma túy cho Nguyễn Lê N chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, các bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và rất ăn năn hối cải nên mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 còn được hưởng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lê N, Phạm Thanh T1Nguyễn Thị Thu H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Lê N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2023.

Bị cáo Phạm Thanh T1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2023.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ 07 (bẩy) ngày tạm giữ (từ ngày 06/12/2023 đến ngày 13/12/2023).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 993MT/PC09 chứa vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định của mẫu 1 và mẫu 4; 01 phong bì niêm phong sau giám định số 993MT-B/PC09 chứa 01 đoạn ống hút của mẫu 3; 01 túi niêm phong PS2 có mã số 2123299 của Phòng K gồm 01 đĩa sứ mẫu 5, 01 thẻ nhựa mẫu 2, 01 vỏ túi nilon mẫu 4 và 01 vỏ túi nilon mẫu 6.

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 đèn nháy, 01 loa mini, 01 máy sấy tóc, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu trắng của Nguyễn Lê N, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng của Nguyễn Thị Thu H1.

Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đồng cho bị cáo Phạm Thanh T1, 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu xanh cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H1, 01 điện thoại Xiaomi Mi 9T Pro màu đen cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Tuấn Đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 08 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Lê N, Phạm Thanh T1Nguyễn Thị Thu H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến phần dân sự của bản án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo, người bào chữa;
  • người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT – Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS - Công an quận Hải An;
  • - PV06, PC10 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Trại tạm giam - Công an Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy Nguyễn La Na và ĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger