TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Ngày: 06/9/2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Diễm Phúc.
- Ông Nguyễn Văn Hóa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 524/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1980. Nơi cư trú hiện nay: Thôn F, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 06/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bà Huỳnh Thị Thu H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T tìm hiểu nhau một thời gian thì quyết định kết hôn, ngày 10/9/2002 cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, được một thời gian thì ông T rượu chè, cờ bạc, say xỉn về chửi bới, phá đồ đạc trong nhà và đánh đập vợ nên mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều, không có tiếng nói chung. Đến tháng 9 năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng nên đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân cả hai không liên lạc gì với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai, bà H về nhà cha mẹ ruột ở thôn F, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế sinh sống, còn ông T thì ở tại địa chỉ Thôn X, xã V, huyện P. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 18/3/2002; cháu Nguyễn Thị Thanh V, sinh ngày 08/12/2003 và cháu Nguyễn Hữu Q1, sinh ngày 22/02/2018. Hiện nay cháu Q, cháu V đã trưởng thành, còn cháu Q1 dưới 18 tuổi nên bà H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hữu Q1 đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác nhận không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để ông Nguyễn Văn T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng ông T vẫn vắng mặt nên không có lời khai của ông Nguyễn Văn T.
Ngày 28/6/2024 bà Huỳnh Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Thu H. Xử cho bà H được ly hôn với ông T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu Q1, sinh ngày 22/02/2018 cho bà Huỳnh Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn T không có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, bà H xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Buộc bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Thu H, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà H, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do ông T thường xuyên gây hấn, ẩu đả, đánh đập bà H nên vợ chồng mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Bà H, ông T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ khi bà H có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông T trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà H nhằm mục đích hàn gắn cho hai vợ chồng đoàn tụ nhưng ông T không đến, chứng tỏ ông T đã bỏ mặc hôn nhân của mình. Nhận thấy vợ chồng ông T và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T là phù hợp pháp luật.
[3] Về việc nuôi con chung: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hữu Q1, sinh ngày 22/02/2018 đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy, bà H có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định. Hiện tại cháu Q1 cũng đang ở cùng bà Huỳnh Thị Thu H tại thôn F, xã V, huyện P. Thấy rằng cháu Q1, cũng đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, để không làm thay đổi sinh hoạt lâu nay của cháu nên Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Nguyễn Hữu Q1 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi là phù hợp với pháp luật. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với hai cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 18/3/2002 và cháu Nguyễn Thị Thanh V, sinh ngày 08/12/2003 đã đủ tuổi trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H. Xử cho bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung và tiền cấp dưỡng: Xử giao cháu Nguyễn Hữu Q1, sinh ngày 22/02/2018 cho mẹ là bà Huỳnh Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Hiện nay cháu Q1 đang ở với bà H. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Đối với hai cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 18/3/2002 và cháu Nguyễn Thị Thanh V, sinh ngày 08/12/2003 đã đủ tuổi trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thu H phải nộp tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0001886 ngày 03/4/2024. Bà H đã nộp đủ.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xin ly hôn
