Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 9 - 2024.

Về việc tranh chấp: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Vinh.

Ông Nguyễn Tường Bích.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 154/2024/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng P, sinh ngày 11/4/1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Hoàng An H, sinh ngày 25/11/1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, Tổ B, Ấp P, xã D, huyện D, tỉnh Bến Tre.

Chị Lê Thị Hồng P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 20/8/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 15/5/2024, bản tự khai ngày 18/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H tự quen biết tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm rưỡi, sau đó hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào năm 2016. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 02 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H cờ bạc, gây nợ nần, chị phải bán tài sản để trả hết nợ nhưng cho đến nay anh vẫn không thay đổi, đã ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay, mặc dù anh H có xin hàn gắn nhưng chị không đồng ý. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên:

  1. Lê Hoàng Bảo L, sinh ngày 23/3/2018.
  2. Lê Hoàng Bảo N, sinh ngày 23/9/2023.

Các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Đối với anh Lê Hoàng An H là bị đơn, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng anh đều vắng mặt, mặc dù anh vẫn còn sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai của anh.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa là không thực hiện theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P đối với anh H. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung cho chị P nuôi. Ghi nhận sự tự nguyện chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị P khai không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 20/8/2024, bị đơn anh Lê Hoàng An H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị P, anh H là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh H cưới nhau vào năm 2016 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào năm 2016 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H được công nhận hợp pháp.

Nay chị P yêu cầu ly hôn, anh H vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của chị P trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H cờ bạc, gây nợ nần, chị phải bán tài sản để trả hết nợ nhưng cho đến nay anh vẫn không thay đổi, đã ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay, không hàn gắn lại được.

Hơn nữa, Toà án đã tiến hành mời chị P và anh H để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh H đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Qua đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị P và anh H đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẽ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị P là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị P và anh H có 02 chung tên:

  1. Lê Hoàng Bảo L, sinh ngày 23/3/2018.
  2. Lê Hoàng Bảo N, sinh ngày 23/9/2023.

Các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi hai con chung và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu L và cháu N, xét thấy từ trước đến nay các cháu đều sống với chị P, do chị P trực tiếp nuôi dưỡng, việc chị nuôi con chung vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, tại thời điểm giải quyết ly hôn thì cháu N dưới 36 tháng tuổi, nên để nhằm ổn định về tinh thần của con chung anh và chị, đồng thời con dưới 36 tháng tuổi thì quyền ưu tiên nuôi con được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Vì vậy, cần để cháu L và cháu N cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị P.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P nuôi con chung nhưng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét đến.

[5]. Về tài sản chung: Chị P khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[6]. Về nợ chung: Chị P khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Lê Thị Hồng P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Hồng P đối với anh Lê Hoàng An H.

Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Hồng P và anh Lê Hoàng An H.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng P và anh Lê Hoàng An H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Lê Hoàng Bảo L, sinh ngày 23/3/2018 và Lê Hoàng Bảo N, sinh ngày 23/9/2023 cho chị Lê Thị Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ghi nhận sự tự nguyện chị Lê Thị Hồng P nuôi con chung không yêu cầu anh Lê Hoàng An H cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Hoàng An H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Lê Thị Hồng P trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Lê Hoàng An H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Hồng P khai không có, nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Chị Lê Thị Hồng P khai không có, nên không xét đến.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Lê Thị Hồng P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005751 ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, chị Lê Thị Hồng P đã nộp đủ án phí.

Chị Lê Thị Hồng P và anh Lê Hoàng An H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (phòng KTNV và THA);
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - UBND xã Long Hưng, huyện Châu Thành,
  • Tỉnh Tiền Giang (Số 62, ngày 06/9/2016);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Mỹ Duyên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Vinh – Nguyễn Tường Bích

Trần Thị Mỹ Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị P yêu cầu ly hôn với anh H. - Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên: 1. Lê Hoàng Bảo L, sinh ngày 23/3/2018. 2. Lê Hoàng Bảo N, sinh ngày 23/9/2023. Các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung: Không có. - Về nợ chung: Không có.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger