Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/6/2024.

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Cầm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Hậu và bà Nguyễn Vũ Như Quỳnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Đình Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 36/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ K, sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên hệ: Đ, thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có yêu cầu đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn đề ngày 16 tháng 02 năm 2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ K trình bày như sau:

Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 11/9/2013. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do tính tình không hợp dẫn đến bất đồng về quan điểm sống. Chị K và anh B đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hiện nay cuộc sống mỗi người tự lo liệu, không còn quan tâm gì nhau. Chị K không còn tình cảm vợ chồng với anh B nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỹ K trình bày vợ chồng có 04 người con chung gồm: Nguyễn Văn L, sinh ngày 06/7/2013; Nguyễn Văn L1, sinh ngày 25/4/2015; Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/5/2019 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/6/2021. Chị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung là Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn T, giao hai người con chung là Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn L1 cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Mỹ K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 12/4/2024, bị đơn là anh Nguyễn Văn B trình bày với nội dung như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Thị Mỹ K có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 11/9/2013. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn cải vả, xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do tính tình không hợp. Chị K và anh B đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay; quá trình ly thân cuộc sống mỗi người tự lo liệu, không còn quan tâm chăm sóc gì nhau. Chị K yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh B cũng đồng ý ly hôn.

Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn B trình bày vợ chồng có 04 người con chung như chị K đã trình bày. Anh B đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung là Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn L1, giao hai người con chung là Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn T cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Thị Mỹ K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Anh Nguyễn Văn B cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, vắng mặt làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, thấy rằng:

[1]Về tố tụng: Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt nhưng đều có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

[2]Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 11/9/2013 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Quá trình chung sống, giữa hai người đã thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vả, xúc phạm nhau; nguyên nhân là do tính tình không hợp. Chị K và anh B đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, cuộc sống mỗi người tự lo liệu, không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Chị K yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh B trình bày tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ K.

[2.2]Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử xét thấy hai người con chung là Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn T hiện đang sống với chị K, hai người con chung là Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn L1 đang sống với anh B. Chị Nguyễn Thị Mỹ K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung là Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn T, giao hai người con chung là Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn L1 cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung thì anh B có ý kiến đồng ý. Xét yêu cầu và ý kiến của chị K và anh B là phù hợp với điều kiện mỗi bên và nguyện vọng của các con chung nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[2.3]Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ K được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

2. Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao hai người con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/5/2019 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/6/2021 cho chị Nguyễn Thị Mỹ K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao hai người con chung là Nguyễn Văn L, sinh ngày 06/7/2013 và Nguyễn Văn L1, sinh ngày 25/4/2015 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Nguyễn Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002144 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc; chị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lộc;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Lộc Bổn, h Phú Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Xuân Cầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Khuê - Bao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger