Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 03-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thọ và bà Lê Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 01/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/HSST-QĐ ngày 23/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Cao Minh H; sinh ngày 13/10/2002 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: 02 T, Tổ B, khu phố E, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Cao Văn D, sinh năm: 1970 và bà Đặng Thị P, sinh năm 1970; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/5/2024 bị Toà án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 30/5/2023 trong vụ án khác (Bản án số 107/2024/HSST ngày 09/5/2024 của Toà án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng). Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T, tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Châu Minh K; sinh ngày 01/5/2002 tại tỉnh Khánh Hoà; Nơi cư trú: B Thái Nguyên, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: (không rõ) và bà Châu Thị Nguyên N (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/5/2024 bị Toà án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 30/5/2023 trong vụ án khác (Bản án số 107/2024/HSST ngày 09/5/2024 của Toà án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng). Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T, tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn V; sinh ngày 01/01/1993 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: 303/25 T, tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn V1 (đã chết) và bà Hoàng Thị Bích L, sinh năm 1961; Vợ, con: chưa có; Bị cáo là người bị hạn chế năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/3/2018 bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 09/5/2024 bị Toà án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 13 (mười ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 30/5/2023 trong vụ án khác (Bản án số 107/2024/HSST ngày 09/5/2024 của Toà án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng). Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T, tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Bà Lê Tôn Nữ Kim Y – Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V là người có nhược điểm về tâm thần do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B cử “có mặt”.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn V:

Bà Hoàng Thị Bích L, sinh năm: 1961 “Có mặt”

Nơi cư trú: 303/25 T, tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định;

- Bị hại:

Anh Đoàn Nguyễn D1, sinh năm: 2001 “vắng mặt”

Trú tại: Tổ C, khu vực 2, phường T, TP ., tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Bích C, sinh năm: 1977 “vắng mặt”.

Trú tại: 359/29, tổ I, khu phố N, phường D, TP ., Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài nên Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V đã bàn bạc và thống nhất với nhau đi dạo để tìm tài sản của người dân để sơ hở mà lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 20 giờ 30' ngày 28/5/2023, sau khi H, K, Vũ chơi game xong tại tiệm Internet, địa chỉ F L, P. Q, TP . Hiếu mặc áo mưa tiện lợi màu xanh, điều khiển xe mô tô hiệu Dream (Không rõ biển số) chở K và V đi tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ 45' cùng ngày, khi cả ba đi đến đoạn ngã ba đường L - N, P. N, TP . H dừng xe lại đi bộ đến đường T thì phát hiện dưới lòng đường trước nhà số A T, P. N, TP . có dựng 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 77G1-424.78, trên xe có gắn chìa khoá do anh Đoàn Nguyễn D1 (Sinh năm: 2001; trú: Tổ 3, KP2, P. T, TP .) điều khiển đến dựng tại đây. Sau đó, H quay lại nói cho K, V biết rồi bảo K điều khiển xe mô tô hiệu Dream chở V đi đến đoạn ngã ba đường T - N đứng cảnh giới. H lén lút đi bộ đến tiếp cận mô tô biển số 77G1-424.78 khởi động xe mô tô rồi điều khiển xe rời đi, K và V điều khiển xe mô tô hiệu Dream chạy theo sau. Sau đó, cả ba bàn bạc với nhau sẽ điều khiển xe mô tô đến TP ., tỉnh Khánh Hòa để tiêu thụ. Đến khoảng 06 giờ ngày 29/5/2023, khi H, K, V đi đến TP ., tỉnh Phú Yên bán chiếc xe mô tô hiệu Dream được 1.000.000 đồng. K tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 77G1-424.78 chở H và V đến TP ., tỉnh Khánh Hòa để tiêu thụ nhưng khi đi đến Tp . cả ba không bán được xe mô tô này nên đã điều khiển xe mô tô biển số 77G1-424.78 chở nhau đi đến TP ., tỉnh Lâm Đồng để tìm chỗ bán xe. Đến chiều ngày 30/5/2023, khi H, K, V đi đến TP .. Tại đây, cả ba đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác nên bị Công an T phát hiện bắt giữ. Quá trình làm việc tại Cơ quan CSĐT Công an T, H, K, V khai nhận xe mô tô biển số 77G1-424.78 đang sử dụng là do cả ba trộm cắp được tại TP . mà có. Cơ quan CSĐT Công an T đã làm việc với bà Nguyễn Thị Bích C (Là chủ sở hữu xe mô tô biển số 77G1-424.78) và thông báo đến Cơ quan CSĐT Công an T1 biết để phối hợp điều tra.

Ngày 06/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP ., kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 77G1-424.78, đã qua sử dụng, trị giá 33.000.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T1 đã tạm giữ và trả lại: Xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 77G1-424.78 cho bị hại Đoàn Nguyễn Duy .

Về dân sự: Bị hại Đoàn Nguyễn D1 đã nhận lại được tài sản của mình nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSQN ngày 29/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Minh H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Châu Minh K từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Các bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Trợ giúp viên Lê Tôn Nữ Kim Y trình bày lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn V. Tuy nhiên, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, bị cáo không biết chữ, cũng không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là người có nhược điểm về tâm thần nên bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên bị bạn bè rủ rê, xúi giục. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 09 tháng tù.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 28/5/2023, các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V đã cùng nhau trộm cắp xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 77G1-424.78 của anh Đoàn Nguyễn Duy d dưới lòng đường trước nhà số A T, phường N, TP tỉnh Bình Định. Ngày 06/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP . đã kết luận xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 77G1-424.78 có trị giá là 33.000.000 đồng.

Các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K là người có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo Nguyễn Văn V bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên biết rất rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng vì tham lam, cần tiền tiêu xài nhưng chây lười lao động, có ý thức xem thường pháp luật nên vào ngày 28/5/2023 các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 77G1-424.78 của bị hại Đoàn Nguyễn D1 có trị giá là 33.000.000 đồng, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Vụ án có 03 bị cáo tham gia nhưng với vai trò đồng phạm giản đơn, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó bị cáo H, K là người có đủ nhận thức, có trình độ học vấn nhưng rủ bị cáo V là người có nhược điểm về tâm thần thực hiện hành vi phạm tội nên hình phạt của các bị cáo H, K phải cao hơn hình phạt của bị cáo V mới tương xứng với hành vi của từng bị cáo.

Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương, ngoài thực hiện hành vi phạm tội này, các bị cáo còn lén lút chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác nên phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy rằng:

  1. Các bị cáo có nhân thân xấu.
  2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo H, K phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo V là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét xử phạt các bị cáo một mức án có lý có tình để các bị cáo an tâm cải tạo tốt.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Đoàn Nguyễn D1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với xe mô tô hiệu Dream (Không rõ biển số) mà H, K, V sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, cả ba khai nhận đã lấy trộm xe mô tô này tại xã T, huyện T, tỉnh Bình Định và ngày 28/5/2023. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an T1 đã tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu trên các phương tiện truyền thông và xác minh tại địa phương nhưng không tìm được người bị hại, không thu giữ được tài sản nên không có cơ sở để xử lý.

Ngoài ra, quá trình điều tra, H, K, V khai nhận vào tối ngày 27/5/2023, cả ba đã trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Attila (Không rõ biển số), bên trong cốp xe có 01 máy khoan điện tại khu vực chợ C1, P. N, TP .. Ngày 28/5/2023, cả ba đã trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Future neo (Không rõ biển số) tại TT. P, huyện T, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an T1 đã tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu trên các phương tiện truyền thông và xác minh tại địa phương nhưng không tìm được người bị hại, không thu giữ được tài sản nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng cho các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K);

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn V);

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Cao Minh H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
    2. Xử phạt bị cáo Châu Minh K 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V; người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn V có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Quy Nhơn;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Đà Lạt;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 28/5/2023, các bị cáo Cao Minh H, Châu Minh K, Nguyễn Văn V đã cùng nhau trộm cắp xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 77G1-424.78 của anh Đoàn Nguyễn D có trị giá là 33.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger