TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày 03-05-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh
2. Ông Trần Xuân Viện
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương Lý, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 05 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị H, tên gọi khác không, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1997 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1; và bà Dương Thị S, sinh năm 1973; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự không.
Bị cáo bị bắt ngày 30/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
Bị hại: Ông Bùi Xuân T, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1972, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, H đi bộ đến khu vực tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để trộm cắp tài sản, khi đến trước cửa nhà anh Bùi Xuân T ( sinh năm 1979, HKTT: tổ A, phường P, thành phố T), H thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA màu trắng, BKS: 20A- 209. 68 của anh T để trước cửa nhà và cửa xe đã không khóa, H đi quanh xe và quan sát không có ai trông coi nên đã dùng tay trái mở cửa xe phía sau bên trái rồi ngồi lên hàng ghế sau của xe lục lọi, tìm sản thì thấy trong túi bên phải chiếc áo khoác treo ở sau ghế lái có một cọc tiền mặt được bó bằng nịt gồm nhiều tờ mệnh giá 500.000 đồng. H cầm cọc tiền cất vào túi quần phía trước bên trái H đang mặc rồi xuống xe bỏ đi. Trên đường về nhà, H bỏ số tiền vừa trộm cắp được ra đếm thì có 24.000.000 đồng. Sau đó H thuê xe taxi B do Nguyễn Tiến D (sinh năm 1972, HKTT: Tổ A, phường Q, thành phố T) là lái xe chở H đi chơi ở thành phố Hà Nội và tỉnh Lạng Sơn và tiêu xài cá nhân hết số tiền đó. Ngày 29/01/2024, H tiếp tục quay lại khu vực nhà anh T và vào trong xe ô tô BKS: 20A- 209.68 của anh T để trộm cắp tài sản thì bị anh T phát hiện và trình báo Công an phường P, thành phố T giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Dương Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; biên bản xác định hiện trường; sơ đồ hiện trường và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 64GB chứa video ghi lại nội dung vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về dân sự, anh Bùi Xuân T yêu cầu bị cáo Dương Thị H bồi thường số tiền 24.000.000 đồng. Hiện bị cáo chưa bồi thường.
Cáo trạng số 102/CT-VKSTPTN ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Dương Thị H từ 09 đến 12 tháng tù. Phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589, 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo H phải bồi thường cho anh T số tiền 24.000.000đ. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm dân sự cũng như các vấn đề khác; nói lời sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại (đã có đơn xin xét xử vắng mặt); người chứng kiến; bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng này theo quy định tại Điều 292, 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra bị cáo Dương Thị H khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa, bị cáo không nhớ chính xác số tiền bị cáo trộm cắp là 21.000.000đ hay 24.000.000đ; trước khi trộm cắp bị cáo đi từ nhà và không mang theo tiền, sau khi trộm cắp được số tiền trong xe của anh T, bị cáo chi tiêu hết gần 24.000.000đ. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, tại khu vực tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Dương Thị H đã có hành vi trộm cắp số tiền 24.000.000₫ của anh Bùi Xuân T. Phần dân sự chưa được giải quyết.
Hành vi của bị cáo Dương Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Điều luật quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[7] Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, hiện đang tạm giam, không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự.
[9] Về vật chứng: Không có.
[10] Trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 24.000.000đ; xét yêu cầu này của bị hại là có căn cứ chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà về điều luật áp dụng, cũng như các vấn đề khác là phù hợp. Về phần hình phạt, có phần nhẹ so với hành vi của bị cáo gây ra.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 136, 292, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589, 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Dương Thị H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Thị H phải trả lại cho anh Bùi Xuân T số tiền 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại khoản 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.200.000₫ án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
4. Quyền kháng cáo bản án: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị hại./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lê Văn Ninh – Trần Xuân Viện | Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
