Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Bản án số: 112/2025/HSST

Ngày: 30/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2025/TL - HSST ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm: 1991; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: Thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị B; Vợ: Nguyễn Thùy D; có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo phạm tội ngày 10/8/2024, bị bắt trong trường hợp đầu thú ngày 06/02/2025. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, cấm xuất cảnh. (Có mặt)

*Bị hại: Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nơi ở: số nhà A ngõ B dốc V phụ sản, phường N, quận B, thành phố Hà Nội (Xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1997; ĐKHKTT và nơi ở: số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H do cần tiền chi tiêu cá nhân nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 34S1-283.87 của chị Hoàng Thị H1 để mang chiếc xe này đi bán lấy tiền trả nợ. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, H dùng số điện thoại 0974.685.xxx để gọi điện, nhắn tin zalo cho chị H1 để hỏi mượn xe, H nói dối lý do mượn xe chở em họ đi tìm phòng trọ và được chị H1 đồng ý. Sau đó, H bắt xe ôm đến phòng trọ của H1 tại địa chỉ số A ngõ B D Hà Nội, phường N, quận B, thành phố Hà Nội để mượn xe của chị H1. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, chị H1 giao chìa khóa và xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 34S1-283.87 cho H. Do xe không có đăng ký nên việc bán hoặc cầm cố xe không được nhiều tiền, H đã sử dụng thủ đoạn bằng cách điều khiển chiếc xe máy nói trên di chuyển đến đứng ở cổng Công an phường C quay video về việc H bị giữ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 34S1-283.87 tại Công an phường C. H yêu cầu chị H1 gửi đăng ký xe máy trên đến Công an phường C để lấy xe ra, chị H1 đồng ý và gửi xe ôm công nghệ mang đăng ký xe đến cho H.

Sau đó H đem xe máy đến quán cầm đồ Tiến C tại địa chỉ số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Khi chủ cửa hàng hỏi về nguồn gốc xe, H nói dối là xe của vợ. Chủ cửa hàng thông báo rằng nếu không có căn cước công dân của chủ xe, họ chỉ có thể cầm cố với giá 40.000.000 đồng. Nếu muốn số tiền cao hơn, cần có căn cước công dân của chủ xe. H nói với chủ cửa hàng là vợ H đang đi liên hoan nên chưa chụp được căn cước nên H lấy trước số tiền 40.000.000 đồng.

Vào ngày 11/8/2024, H nói dối chị H1 mượn ảnh thẻ căn cước công dân của chị H1 để làm thẻ gửi xe chung cư. Sau đó, H đã sử dụng ảnh căn cước công dân của chị H1 để cầm cố xe máy, nhận thêm 26.760.000 đồng từ cửa hàng cầm đồ Tiến C, nâng tổng số tiền cầm cố chiếc xe máy của chị H1 lên 66.760.000 đồng, thời hạn cầm cố chiếc xe là 10 ngày. Số tiền này đã được H dùng chi tiêu cá nhân hết.

Đến ngày 14/8/2024, chị H1 đòi xe máy, H đã đưa ra nhiều lý do để trì hoãn không trả xe, nhưng do không có xe để trả nên H đã tắt điện thoại cắt liên lạc với chị H1 nhằm lẩn trốn. Đến hạn lấy xe, H không có tiền lấy xe, cũng không đóng được lãi nên H tắt máy điện thoại và lên thành phố T.

Ngày 06/02/2025, Phạm Văn H đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận B đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại kết luận định giá số 108/KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/12/2024, kết luận: "01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen nhám, BKS: 34S1-283.87 đã qua sử dụng có trị giá 70.000.000 đồng".

Tại cơ quan điều tra, chủ cửa hàng cầm đồ Tiến C là anh Nguyễn Tiến C khai nhận: Khi cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 34S1-283.87, anh C đã hỏi H về nguồn gốc xe máy. Tuy nhiên, H xuất trình được đăng ký xe và căn cước công dân của chủ xe nên anh C không biết chiếc xe trên là tài sản do phạm tội mà có. Hết thời hạn cầm cố, H không đến lấy xe nên anh C đã bán chiếc xe cho một người không rõ nhân thân, lai lịch với giá 67.000.000 đồng. Hành vi của anh Nguyễn Tiến C không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đối với T tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã ra đề nghị số 7166/VPCQCSĐT-BĐ ngày 28/4/2025 yêu cầu Phòng C1 - Công an thành phố H ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Tiến C về hành vi cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền được quy định tại điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Về bồi thường dân sự: Phạm Văn H đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho bị hại Hoàng Thị H1. Chị H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vật chứng chưa thu giữ được: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen nhám, BKS: 34S1-283.87.

Cáo trạng số: 97/CT - VKS ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố Phạm Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét nhân thân bị cáo Phạm Văn H không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 47; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Hoàng Thị H1 đã nhận bồi thường số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen nhám, BKS: 34S1-283.87 hiện đang chưa thu giữ được, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng số 14/QĐĐT-CQĐT-ĐTTTH ngày 20/01/2025.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án treo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 10/8/2024, tại số A ngõ B dốc viện Phụ sản H2, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm Văn H đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen nhám, BKS: 34S1-283.87 của bị hại là chị Hoàng Thị H1, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Đến ngày 06/02/2025, bị cáo ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi tội phạm của mình. Bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại Hoàng Thị H1. Chị H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn H.

    Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần áp dụng cho bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe và phòng ngừa chung.

  3. [3] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

  4. [4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự ra đầu thú. Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .

    Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo cũng như cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo dục cũng đủ để bị cáo có thời gian tu dưỡng rèn luyện bản thân, cải tạo ổn định cuộc sống cũng như để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  5. [5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

  6. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Hoàng Thị H1 đã nhận bồi thường số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự nên Tòa án không xem xét.

  7. [7] Về xử lý vật chứng:

    Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen nhám, BKS: 34S1-283.87 hiện đang chưa thu giữ được, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng số 14/QĐĐT-CQĐT-ĐTTTH ngày 20/01/2025.

  8. [8]. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH

Xử:

  1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 47; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  2. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 56 (Năm mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 30/6/2025.

    Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người bị phạt tù được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen nhám, BKS: 34S1-283.87 hiện đang chưa thu giữ được, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng số 14/QĐĐT-CQĐT-ĐTTTH ngày 20/01/2025.

  4. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/HSST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 112/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm: 1991; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: Thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị B; Vợ: Nguyễn Thùy D; có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger