Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 112/2025/HSST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hồ Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước Lộc
  2. Ông Đinh Quang Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trần Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2025/HS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST- HS, ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Kiều Thị T, sinh ngày 02/11/1987, tại huyện C, tỉnh An Giang; số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 11/4/2023; nơi thường trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Tổ E, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 01/12; con ông Kiều V (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết); chồng: Giang Quốc P (không đăng ký kết hôn) và Phan Vũ L (không đăng ký kết hôn); con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp ổn định và cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 12 giờ ngày 13/9/2024, Kiều Thị T điện thoại cho người phụ nữ tên G (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy, G đồng ý bán. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày có người thanh niên tên H (chưa rõ nhân thân) đến nhà của T thuê tại ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang giao 01 bịch ma túy cho T và nhận tiền mặt. Mua được ma túy, Kiều Thị T phân ra làm 03 phần giống nhau để bán lại cho các người nghiện kiếm lời. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày lần lượt có Hạo, T1, H1 (chưa rõ nhân thân) đến hỏi mua ma túy, T đồng ý và bán cho H2, T1, H1 mỗi người 400.000 đồng.

Đến khoảng 12 giờ ngày 14/9/2024, Kiều Thị T điện thoại cho G hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy để bán lại kiếm lời, Gà đồng ý bán. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H (chưa rõ nhân thân) mang ma túy đến nhà của T giao 01 bịch ma túy cho T và nhận tiền mặt. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T tiếp tục điện thoại cho G hỏi mua thêm 1.700.000 đồng ma túy để bán lại kiếm lời, Gà đồng ý bán, đối tượng tên H tiếp tục đến giao 01 bịch ma túy cho T. Sau đó, T lấy 01 phần ma túy từ trong 01 bịch ma túy mua từ Gà phân ra thành 05 phần nhỏ cất giấu vào túi quần Jean của T, số ma túy còn lại được T cất giấu bên trong cặp đi học của con Trắng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an thành phố bắt quả tang.

Tang vật vụ án thu giữ gồm:

  • 01 (một) bịch nylon màu trắng một đầu được hàn kín, có hàng chữ màu đỏ, một đầu có rãnh gài, viền màu trắng, kích thước khoảng 7,2cm x 6,2cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong (Kiều Thị T khai nhận mua của G).
  • 01 (một) bịch nylon màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 4,2cm x 7,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong (Kiều Thị T khai nhận mua của G).
  • 01 (một) bịch nylon màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 5,2cm x 2,8cm, bên trong bịch nylon có 05 (năm) bịch nylon màu trắng, được hàn kín hai đầu, gồm: 03 (ba) bịch nylon màu trắng, có kích thước khoảng 2,7cm x 01 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất và 02 bịch nylon màu trắng, có kích thước 1,5cm x 1,8 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong (Kiều Thị T khai nhận mua của G).
  • 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu đen số IMEI 1: 864983022150976, IMEI 2: 864983062150968, đã qua sử dụng (thu giữ của Kiều Thị T).
  • 01 (một) bao thuốc Hero, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) băng vệ sinh hiệu Diana Sensi Cool Fresh.
  • 01 (một) cặp học sinh màu đỏ, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 990/KL-KTHS, ngày 22/9/2024 của Phòng K – Công an tỉnh K kết luận:

  • Gói 01: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,0277 gam.
  • Gói 02: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 06 (sáu) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 4,2934 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số: 117/CT-VKSPQ ngày 06/5/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Kiều Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Kiều Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Kiều Thị T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Gói 1: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 1019/Gói 01. Bên trong phong bì bao gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,9323 gam (đựng trong 01 bịch nylon); Gói 2: Mầu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 1019/Gói 02. Bên trong phong bì bao gồm 06 (sáu) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khôi lượng là 3,6735 gam (đựng trong 03 bịch nylon); 01 (một) bao thuốc Hero, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) băng vệ sinh hiệu Diana Sensi Cool Fresh.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu đen số IMEI 1: 864983022150976, IMEI 2: 864983062150968, đã qua sử dụng (thu giữ của Kiều Thị T).

Truy thu số tiền thu lợi bất chính tử việc mua bán ma tuý của bị cáo Kiều Thị T số tiền 5.900.000 đồng.

Đối với người phụ nữ tên G và người thanh niên tên H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Kiều Thị T và 03 người thanh niên tên H2, T1, H1 là người mua ma túy từ Kiều Thị T, quá trình điều tra chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Kiều Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và kết luận giám định. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 13/9/2024 đến ngày 14/9/2024, Kiều Thị T mua ma túy của 01 người phụ nữ tên G (chưa rõ nhân thân) 02 lần với tổng số tiền 4.700.000 đồng và đã bán ma túy lại cho H2, T1, H1 (chưa rõ nhân thân) tại ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang được nhiều lần, tổng thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/9/2024, Kiều Thị T bị Công an thành phố P bắt quả tang trong túi quần Jean của T và trong cặp học của con Trắng có tổng số 6,3211 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho các người nghiện. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma tuý, làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, đồng thời còn ảnh hưởng đến sức khỏe, đạo đức, giống nòi của dân tộc. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vì muốn có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán ma túy nhiều lần, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo nên cần có một mức án nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời để phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai những lần phạm tội trước đó mặc dù chưa bị phá hiện, đã nộp một phần số tiền thu lợi bất chính, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy địmnh tại điểm r, s khoản 1 và khoảng 2 Điều 51 Hộ luật Hình sự. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo không có tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt cũng đủ tính răn đe, giao dục bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định gồm: Gói 1: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 1019/Gói 01. Bên trong phong bì bao gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,9323 gam (đựng trong 01 bịch nylon); Gói 2: Mầu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 1019/Gói 02. Bên trong phong bì bao gồm 06 (sáu) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khôi lượng là 3,6735 gam (đựng trong 03 bịch nylon); 01 (một) bao thuốc Hero, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) băng vệ sinh hiệu Diana Sensi Cool Fresh là công cụ sử dụng phạm tội không còn giá trị sử dụng.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu đen số IMEI 1: 864983022150976, IMEI 2: 864983062150968, đã qua sử dụng (thu giữ của Kiều Thị T) là phương tiện để thực hiện việc mua bán ma tuý cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Truy thu số tiền thu lợi bất chính tử việc mua bán ma tuý của bị cáo Kiều Thị T số tiền 5.900.000 đồng. Bị cáo đã nộp 1.400.000 đồng nên buộc bị cáo phải tiếp tục nộp thêm số tiền 4.500.000 đồng.

[7] Đối với người phụ nữ tên G và người thanh niên tên H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và 03 người thanh niên tên H2, T1, H1 là người mua ma túy từ bị cáo chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Kiều Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Kiều Thị T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định gồm: Gói 1: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 1019/Gói 01. Bên trong phong bì bao gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,9323 gam (đựng trong 01 bịch nylon); Gói 2: Mầu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 1019/Gói 02. Bên trong phong bì bao gồm 06 (sáu) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khôi lượng là 3,6735 gam (đựng trong 03 bịch nylon); 01 (một) bao thuốc Hero, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) băng vệ sinh hiệu Diana Sensi Cool Fresh.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu đen số IMEI 1: 864983022150976, IMEI 2: 864983062150968, đã qua sử dụng (thu giữ của Kiều Thị T).

(Tất cả các vật chứng được thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/5/2025).

Buộc bị cáo Kiều Thị T2 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính tử việc mua bán ma tuý là 5.900.000 đồng. Bị cáo đã nộp 1.400.000 đồng nên buộc bị cáo phải tiếp tục nộp thêm số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS TP Phú Quốc;
  • - Thi hành án DS TP Phú Quốc;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Phân trại tạm giam KVPQ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/HSST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 112/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiều Thị Trắng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger