|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 112/2025/HSST Ngày 20 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy;
- Ông Nguyễn Đình Rành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Hồ Văn N, tên gọi khác: Hồ Hoàng H, giới tính: nam, sinh năm 1993 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có hộ khẩu thường trú; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hồ Văn L (đã chết) và bà Trần Anh T; chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- Bản án số 77/2015/HS-ST ngày 02/6/2015, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt Hồ Văn N (Tên gọi khác: Hồ Hoàng H) 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Bản án số 268/2018/HS-ST ngày 28/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt Hồ Văn N (Tên gọi khác: Hồ Hoàng H) 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Bản án số 301/2021/HSST ngày 16/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt Hồ Văn N (Tên gọi khác: Hồ Hoàng H) 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 22/01/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Hồng P, tên gọi khác: Phát C, giới tính: nam, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A P, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hồng P1 và bà Tạ Thị V; chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- Bản án số 29/2020/HSST ngày 17/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Hồng P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản";
- Bản án số 144/2020/HSST ngày 22/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận G, Bản án số 115/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Hồng P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 năm tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 21/9/2023.
Nhân thân:
- Bản án số 155/2017/HSST ngày 26/9/2017, Tòa án nhân dân Quận G xử phạt Nguyễn Hồng P 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 06/10/2017.
- Ngày 11/4/2018, Công an xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính hành vị "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đoàn Tất L1, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Số A P, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị Thanh T1, sinh năm 2000; địa chỉ: Số A T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Ông Đặng Quốc T2, sinh năm 1987 (Vắng mặt); địa chỉ: Số F L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Võ Quỳnh T3, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Số G L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn N và Nguyễn Hồng P là những đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Nhí từ thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lên Thành phố Hồ Chí Minh để gặp Nguyễn Hồng P. Do chưa tìm được việc làm nên N ở lại nhà P chơi, tại địa chỉ số A P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào khoảng 21h30 ngày 02/10/2024, N đi bộ lòng vòng khu vực nơi ở của P, khi đến trước nhà số A P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, N phát hiện thấy trong sân có dựng chiếc xe máy hiệu Honda Wave Alpha mang biến số 59C2-508.97, cắm sẵn chìa khóa, cổng mở, không ai trông coi nên N lén lút đi bộ vào sân nhà, dắt xe rồi lên xe nổ máy chạy đi.
Đến khoảng 02h00 ngày 03/10/2024, N chạy chiếc xe trên về nhà của P thì gặp P và Trương Thị Thanh T1 (bạn gái của P). P hỏi "Xe của ai vậy" thì N trả lời "Xe của chị tao" rồi rủ P ra ngoài kiếm chỗ ăn khuya. Trên đường đi, N nói với Phát xe này là N trộm cắp có được, trong cốp xe có giấy đăng ký xe nên muốn bán và hứa sẽ chia tiền cho P. P đồng ý và sử dụng chiếc xe của N trộm cắp được chở N qua Quận H để kiếm chỗ cầm cố hoặc bán xe nhưng không được do cả hai không có căn cước công dân. Sau đó P về chở T1 (có căn cước công dân), trên đường đi đến quan ăn khuya, P nhờ T1 điện thoại thông qua messenger cho T3 (T1 và T3 là bạn hàng xóm khi còn ở Quận D) hỏi cần tiền gấp nên nhờ T3 nhận cầm xe đến sáng mai chuộc lại, T3 đồng ý. Sau khi đi ăn khuya xong, N chở P và T1 về nhà. Do khuya và xe chở 03, N sợ bị công an phát hiện nên dừng xe lại đi bộ về nhà P và giao xe cho P đi cầm đồ. P chở T1 đến gặp Võ Quỳnh T3, trên đường đi P không nói với T1 xe trên do N trộm cắp mà có. Khi P đên gặp T3 tại địa chỉ ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh và T3 đồng ý cầm xe với giá 4.000.000 đồng. Về đến nhà P đưa lại cho N 200.000 đồng.
Sau đó P được Nguyễn Hoàng Đ giới thiệu (do trước đó P có bán xe của P cho Đ nên P quen biết Đ) bán xe cho Đặng Quốc T2 với giá 7.200.000 đồng. P và T2 liên hệ với nhau, P hẹn T2 và T3 đến chân cầu H địa chỉ 52-54-56 đường D (H), phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để giao xe và tiền. Sau khi bán được xe P đã trả tiền lại cho T3 4.300.000 đồng, còn 2.900.000 đồng thì P tiêu xài cá nhân hết. P hứa hẹn sẽ đưa lại cho N 5.000.000 đồng.
Quá trình cầm xe và bán xe, P không nói cho ông T3 và ông T2 biết chiếc xe là tài sản do trộm cắp mà có. Ông T3 và ông T2 cũng không biết xe trên là tài sản do trộm cắp mà có.
Ngày 02/10/2024, bị hại ông Đoàn Tất L1 đã đến Công an phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo sự việc. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Q đã mời Hồ Văn N, Nguyễn Hồng P về trụ sở làm việc. Tại cơ quan cảnh sát điều tra, N và P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 323/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận như sau: 01 (một) xe Honda Wave Alpha, màu xanh đen, BKS: 59C2-508.97, đăng ký lần đầu tháng 06/2015, có giá trị là 7.000.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) Xe Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 59C2-508.97, đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy đăng ký xe số 005870 của xe Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 59C2-508.97: Qua xác minh, xe trên do ông Đoàn Tất L1 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại cho ông Đoàn Tất L1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 2640/QĐ-(ĐTTH) ngày 14/10/2024.
* Về dân sự: Ông Đoàn Tất L1 đã nhận lại chiếc xe là tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu dân sự nào khác; anh Đặng Quốc T2 tự nguyện giao nộp lại xe, không có yêu cầu dân sự nào khác.
Bản cáo trạng số 108/CT-VKSQ7 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Bị cáo Hồ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Bị cáo Hồ Văn N có hành vi lén lút trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha mang biển số 59C2-508.97 có giá trị 7.000.000 đồng tại nhà số A P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo N có tiền án là tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo P biết rõ tài sản do N phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý đi tiêu thụ xe cho N để được chia tiền tiêu xài. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hồ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” và Nguyễn Hồng P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Văn N từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù;
- Điểm khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù;
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị không xét.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hồng P nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 6.700.000 đồng và buộc bị cáo N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 200.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo Hồ Văn N đã thừa nhận hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như đã nêu trên; bị cáo Nguyễn Hồng P đã thừa nhận hành vi phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, không tranh luận gì, các bị cáo biết lỗi và nói lời sau cùng:
Các bị cáo rất ăn năn và hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án nhẹ để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Hồ Văn N đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là: 01 (Một) xe máy hiệu Honda Wave Alpha mang biển số 59C2-508.97 tại nhà số A P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Đoàn Tất L1. Theo Kết luận định giá số 323/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G thì xe có giá trị là 7.000.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại bản án số 301/2021/HSST ngày 16/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác định bị cáo Hồ Văn N “tái phạm nguy hiểm”, do đó, bị cáo N có tiền án tái phạm nguy hiểm về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm thu lợi bất chính một cách cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo N thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Hồng P không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản nêu trên do bị cáo N phạm tội mà có, đã tích cực tham gia bán tài sản nhằm mục đích được chia tiền, lợi bất chính số tiền 7.000.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản cáo trạng số 108/CT-VKSQ7 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Bị cáo Hồ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Về hình phạt bổ sung: đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung. Xét bản thân các bị cáo không có thu nhập ổn định, quá trình thực hiện hành vi phạm tội thu lợi bất chính không lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
[4] Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không chịu lo làm ăn, tham lam tư lợi, lười nhác lao động, đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý các bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo N, P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo N có trình độ học vấn không cao, cha mẹ ly hôn từ nhỏ, không sống cùng mẹ, ở cùng bà N2 vì cha mất sớm, do đó cho bị cáo N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hồng P có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Về vật chứng:
[7.1] Cơ quan công an thu giữ: 01 (một) Xe Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 59C2-508.97, đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy đăng ký xe số 005870 của xe Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 59C2-508.97: Qua xác minh, xe trên do ông Đoàn Tất L1 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại cho ông Đoàn Tất L1 nên Hội đồng xét xử không xét.
[7.2] Đối với chiếc điện thoại mà bị cáo Nguyễn Hồng P sử dụng để liên hệ bán xe. Do bị cáo P mượn của T1, khi mượn không nói với T1 là liên hệ để bán xe do N trộm cắp mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Đoàn Tất L1 đã nhận được lại tài sản và không yêu cầu gì thêm và tại phiên tòa vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.
Các bị cáo khai sau khi lấy tài sản trộm cắp đem cầm đồ cho Võ Quỳnh T3 giá 4.000.000 đồng và sau đó bán cho ông Đặng Quốc T2 được số tiền 7.200.000 đồng, P chia cho N 200.000 đồng, trả cho T3 4.300.000 đồng. Trong vụ án này do ông Đặng Quốc T2 không yêu cầu bị cáo P và N trả lại số tiền 7.200.000 đồng. Do đó, cần buộc bị cáo P nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 6.700.000 đồng và buộc bị cáo N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 200.000 đồng.
Đối với số tiền 300.000 đồng ông Đặng Quốc T2 đã đưa ông Nguyễn Hoàng Đ, ông T2 không yêu cầu ông Đ hoàn trả lại số tiền đã đưa nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Đối với ông Võ Quỳnh T3, ông Đặng Quốc T2, ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Trương Thị Thanh T1 không biết tài sản nêu trên là tài sản do trộm cắp được mà có nên cơ quan cảnh sát điều tra công an Q không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.
[10] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:
Bị cáo Hồ Văn N 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/10/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Hồng P 01 (Một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/10/2024.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng P nộp lại số tiền 6.700.000 (Sáu triệu bảy trăm ngàn) đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Hồ Văn N nộp lại số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc mỗi bị cáo Hồ Văn N, Nguyễn Hồng P phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 333, khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Luyến |
Bản án số 112/2025/HSST ngày 20/06/2025 của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 112/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Văn N 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", bị cáo Nguyễn Hồng P 01 năm tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
