|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 112/2025/HS-ST Ngày: 24 – 6 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thiện
- Bà Trần Ngọc Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 31/2025/QĐ-HPT ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường D, sinh năm: 2005 tại tỉnh Vĩnh Long; Số C; Nơi thường trú: Ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nơi tạm trú: Tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn Bé S và bà Nguyễn Thị Diễm P.
Tiền án: Bản án số 87/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày 28/11/2023 về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: không; Bị cáo đầu thú và bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Đoàn Thị Kim N, sinh ngày 15/5/2007; Nơi thường trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi tạm trú: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Nguyễn Thị Mai N1, sinh năm: 1987; Nơi thường trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi tạm trú: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương Nơi tạm trú: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (là mẹ của bị hại). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Phạm Quang T, sinh năm: 1995; Nơi thường trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm trú: B khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Minh V, sinh năm: 1991 - Chủ cơ sở Tiệm cầm đồ V2; Nơi thường trú: B, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Bà Thị Kiều V1, sinh năm: 2005; Nơi thường trú: A khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Công ty T1; địa chỉ: Tầng I, A, 11, 12 tòa nhà M, số B C, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Văng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Từ Hải D1, sinh năm 1989; địa chỉ: F, ĐX A, khu F, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trường D và Trương Quý L cùng ở trọ tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 26/3/2024, D rủ L đến phòng trọ của bị hại Đoàn Thị Kim N tại B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để đòi 2.300.000 đồng N nợ. D điều khiển xe mô tô biển số 64E1-730.02 chở L đi. Đến khoảng 10 giờ 00 thì đến phòng trọ của N, L đứng bên ngoài cổng, D đi bộ vào dãy trọ thì thấy cửa phòng trọ của N không đóng, trong phòng không có ai nên D nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của N bán lấy tiền tiêu xài. D dùng tay vẫy L vào và nói với L biết ý định trộm cắp tài sản rồi kêu L đứng bên ngoài cửa cảnh giới cho D. D lén lút đi vào trong phòng, lên gác thì thấy N đang nằm ngủ, bên cạnh có 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu đen đang sạc pin, D dùng tay rút dây sạc và cầm lấy điện thoại trên tay. Sau đó D xuống bên dưới phòng trọ, tiếp tục lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M33, màu vàng để dưới nền phòng trọ. Sau khi lấy trộm được 02 điện thoại trên, D và L tẩu thoát. Trên đường đi, D đưa cho L điện thoại hiệu S1 M33 và nói L bán điện lấy tiền tiêu xài. Khi đến tiệm cầm đồ Vương Đại P1, D và L đi vào, L đem điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M33 gặp nhân viên cửa hàng là ông Phạm Quang T nói đây là điện thoại của L cần bán thì ông T đồng ý mua với số tiền 1.500.000 đồng, D và L cùng nhau tiêu xài hết. Đối với điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu đen, do không mở được mật khẩu khoá màn hình nên D cất giữ. Đến khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 27/3/2024, D nhắn tin cho N biết việc D và L trộm điện thoại của N và hẹn gặp N tại khu phố B, phường T, thành phố T để trả lại điện thoại Iphone Xs Max cho N đồng thời yêu cầu N trả số tiền 2.300.000 đồng. Sau khi biết D lấy trộm
điện thoại, N đến Công an phường T, thành phố T trình báo. Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/3/2024, D đem điện thoại Iphone Xs Max đến phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhờ bạn gái Thị Kiều Vân giữ giùm và nói đây là điện thoại do N gán nợ cho D. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 27/3/2024, D điều khiển xe mô tô kiểu dáng Vario, biển số 64E1-730.02 chở L đến gặp N. Khi D và L đến ngã ba giao giữa đường N và DA4 khu phố B, phường T thì gặp N, thấy D và L, N tri hô “Trộm, trộm, ...”, lúc này lực lượng Công an phường T đang tuần tra đi đến kiểm tra và mời tất cả về trụ sở Công an phường T làm việc. Tại Công an phường T, D đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi lén lút chiếm đoạt 02 điện thoại nêu trên của N. Cùng ngày, Thị Kiều V1 đem điện thoại Iphone Iphone Xs Max do D gửi đến Công an phường T giao nộp. Công an phường T đến tiệm cầm đồ Vương Đại P1 tạm giữ của ông Phạm Quang T điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M33, màu nâu.
Theo Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M33 màu nâu, trị giá 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, dung lượng 256GB, màu đen, trị giá 5.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 9.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 85/CT-VKS-TA ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra còn đề nghị về phần xử lý vật chứng theo quy định.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm sớm hoà nhập cộng đồng.
- Bị hại khai đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/4/2024, tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Trường D lén lút chiếm đoạt của bà Đoàn Thị Kim N 02 điện thoại di động với tổng giá trị là 9.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý rồi lén lút cùng người khác chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Bị cáo đã bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, nơi đông người sinh sống, thể hiện bản chất liều lĩnh, xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội và tái phạm là các tình tiết tăng nặng theo điểm h, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và trong thời gian thử thách theo Bản án số 87/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long bị cáo phạm tội mới nên áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tôi đã ra đầu thú và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Đối với Trương Quý L tham gia cùng bị cáo. Quá trình điều tra xác định, L sinh ngày 24/6/2008 (đăng ký khai sinh quá hạn), chưa xác định được tuổi thật và nơi ở hiện nay của L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt và lời khai trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Ông Phạm Quang T và ông Nguyễn Minh V vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng đã sử dụng mua điện thoại do bị cáo và L bán. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý nộp lại số tiền 1.500.000 đồng sung Ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với Công ty T1 vắng mặt và không yêu cầu gì trong vụ án nên không đặt ra xem xét. Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay bằng phương tiện điện tử ngày 17/12/2023 đối với bị cáo Nguyễn Trường D thì Công ty T1 có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M33 là tài sản của bị hại N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vario, màu sơn: Xanh - Đen, số khung: MH1JMC 113PK253288, số máy: JMC1E 1253312, biển số: 64E1-730.02 là tài sản của bị cáo D mua lại nhưng chưa làm thủ tục theo quy định, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điều 47, Điều 48; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù theo Bản án số 87/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
2. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại: VARIO, màu xanh, biển kiểm soát: 64E1-730.02, số khung: MH1JMC 113PK253288, số máy: JMC1E1253312, không kiểm tra tình trạng bên trong xe.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2025 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
Bị cáo Nguyễn Trường D nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |
Bản án số 112/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 112/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lén lút chiếm đoạt điện thoại của bị hại
