Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 112/2025/HS-ST

Ngày: 24-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố

Các hội thẩm nhân dân: ông Lương Văn Nay và bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lanh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Trần Huỳnh Như T - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh và điểm cầu thành phần đặt tại Phân trại tạm giam khu vực L, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2024 và Thông báo số 22/TB-TA ngày 06 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn T1, sinh năm 1985, tại: Đồng Nai; nơi cư trú: ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; giớ tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước số [...], cấp ngày 10-8-2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Trần S, sinh năm 1957, (đã chết); con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; có vợ: Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016;

Tiền án: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 02 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2021/HS-ST ngày 27-5-2021 và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 238/2021/HSPT-QĐ ngày 22-10-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, chấp hành xong hình phạt ngày 20-5-2023.

Nhân thân: Năm 2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 345/2007/HS-PT ngày 12-11-2007, chấp hành xong hình phạt ngày 22-7-2009, (đã được xóa án tích).

Bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 22-01-2025, tạm giam từ ngày 28-01-2025 tại Phân trại tạm giam khu vực L cho đến nay, (Có mặt tại điểm cầu thành phần đặt tại Phân trại tạm giam khu vực L).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T1 sử dụng ma túy từ tháng 12-2024, loại ma túy thường sử dụng là ma túy đá (M). Để có ma túy sử dụng, vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 20-01-2025, T1 gặp một người tên “T2” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực cầu C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, T1 mua của người này số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ma túy, được 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa ma túy. T1 mang gói nylon chứa ma túy về nhà tại Tổ F, ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, lấy một ít ra sử dụng, còn lại bỏ vào hộp thuốc lá Jet màu trắng, cất giấu dưới chân tủ gỗ cạnh giường, trong phòng ngủ của T1 để sử dụng dần.

Đến 16 giờ 30 phút, ngày 22-01-2025, Công an xã B tiến hành kiểm tra hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, phát hiện và bắt quả tang T1 đang cất dấu bịch nylon, bên trong có chứa ma túy và các vật chứng gồm 01 chai nhựa có gắn nỏ thủy tinh, ống hút, Công an xã B đã tiến hành niêm phòng đồ vật, tài liệu, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để tiến hành giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 28-01-2025, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,1364gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 104/CT-VKSLK ngày 16-05-2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS năm 2015).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau:

  1. Về tội danh: đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng 02 năm tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã mô tả, không tham gia tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng như sau: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng của vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 22-01-2025, bị cáo đã có hành tàng trữ trái phép khối lượng 0,1364gam ma túy, loại Methamphetamine tại nhà ở của bị cáo thuộc Tổ F, ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, mục đích để sử dụng dần. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng

Bị cáo đã 02 lần bị kết án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

[6] Về hình phạt bổ sung

Bị cáo có con nhỏ, hoàn cảnh kinh tế có phần khó khăn, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về các biện pháp tư pháp

Một phong bì niêm phong số 208/KL-KTHS ngày 28-01-2025 (bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định) là vật cấm lưu hành; 01 chai nhựa gắn nỏ thủy tinh; ống hút; 01 vỏ bao thuốc lá Jet, không còn giá trị sử dụng, nên tiêu hủy.

[8] Các vấn đề khác

Đối với đối tượng tên “T2” đã bán ma túy cho bị cáo, hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[9] Về án phí

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, cũng như đề xuất mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo 02 (H2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22-01-2025.

  3. Về vật chứng:

    Tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 208/KL-KTHS ngày 28-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ (bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định); 01 (Một) chai nhựa gắn nỏ thủy tinh; ống hút; 01 (Một) vỏ bao thuốc lá Jet, (Các vật chứng, tài sản nêu trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19-5-2025)

  4. Về án phí:

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

  6. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - VKSND thành phố Long Khánh; (1)
  • - CQCSĐT CA tỉnh Đồng Nai (PC 01) (2)
  • - CQTHAHS CAT. Đồng Nai (PC 10) (1)
  • - Trại tạm giam CAT. Đồng Nai (PC 11) (1)
  • - Phòng HSNV - CAT. Đồng Nai (PV 06) (1)
  • - CCTHADS thành phố Long Khánh; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 112/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger