Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02/6/2025

V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Bà Mai Thị Viện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa: Bà Mai Thị Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 82/TLST-HNGĐ, ngày 16/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐ-ST ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Cao Đình S, sinh năm 1973;
  • Nơi thường trú: Thôn C, xã Q, H. Q, Thanh Hóa
  • Nơi ở hiện tại: Thôn N, xã Q, H. Q, Thanh Hóa
  • - Bị đơn: Bà Mai Thị D, sinh năm 1974;
  • Nơi thường trú trước khi xuất nhập cảnh: Thôn C, xã Q, H. Q, Thanh Hóa
  • Hiện đang sinh sống tại: Đài Loan

Tại phiên tòa vắng mặt cả hai bên đương sự ( Anh Cao Đình S có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Mai Thị D vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Cao Đình S trình bày như sau:

Tôi và chị Mai Thị D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 1992 nhưng đã bị mất giấy đăng ký kết hôn, sau đó đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 22/6/2009. Sau khi cưới, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung. Kể từ năm 2012, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai.

Vào khoảng năm 2020, vợ tôi đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Kể từ đó, vì khoảng cách địa lý và công việc, vợ chồng càng ngày càng không chia sẻ với nhau trong cuộc sống; không ai quan tâm đến ai, đã lâu không liên lạc với nhau. Do đó, tôi không biết địa chỉ cụ thể nơi ở cụ thể của chị D làm việc và sinh sống tại Đài Loan. Nay xét thấy tình cảm giữa tôi và chị D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy tôi làm đơn ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Mai Thị D.

Về con chung:

Vợ chồng có 02 con chung là cháu Cao Minh Đ, sinh ngày 10/01/1993 và cháu Cao Minh T, sinh ngày 04/02/2009. Hiện nay, cháu Cao Minh Đ đã thành niên và có gia đình riêng nên tôi không đề nghị gì. Đối với cháu Cao Minh T, khi ly hôn, do chị D hiện nay đang sống và làm việc tại Đài Loan nên tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Cao Minh T và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi.

Về tài sản chung và công nợ chung:

Vợ chồng tôi không có tài sản và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết..

Ý kiến của bà Lưu Thị T1 (mẹ đẻ chị D) trình bày:

chị Mai Thị D và anh Cao Đình S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2009.

Sau khi kết hôn, chị D và anh S sống cùng với gia đình nhà nội tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó chuyển sang nhà riêng tại thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Chị Mai Thị D và anh Cao Đình S có 02 con chung là cháu Cao Minh Đ, sinh ngày 10/01/1993 và cháu Cao Minh T, sinh ngày 04/02/2009.

Anh S và chị D có 01 căn nhà là tài sản chung ở thôn N, xã Q. Hiện nay Chị L đi xuất khẩu bên Đài Loan từ năm 2020, địa chỉ cụ thể thì bà không biết. Chị D chỉ liên lạc về gia đình bà qua điện thoại, zalo. Gia đình tôi có biết việc Anh S làm đơn ly hôn với chị D nhưng gia đình không có ý kiến gì. Tôi đồng ý nhận các văn bản, quyết định và có trách nhiệm thông báo cho Chị D biết.

Ý kiến của cháu Cao Minh T có đơn xin được ở với bố.

* Sau khi thụ lý Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ qua Cục X Bộ C thì được biết Chị Mai thị D đã xuất cảnh 01 lần, xuất cảnh gần nhất vào ngày 20/10/2020, đến nay chưa có thông tin nhập cảnh về nước (BL:14).

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Về tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền lợi ích hợp pháp.

3. Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án

Từ những phân tích nêu trên căn cứ Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 273, 471, 479 BLTTDS; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quyết định theo hướng:

  • Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Cao Đình S.
  • Về hôn nhân: Anh Cao Đình S được ly hôn chị Mai Thị D.
  • Về con chung: Giao cháu Cao Minh T, sinh ngày 04/02/2009 cho anh S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Cao Minh Đ đã thành niên nên Tòa án không xem xét.
  • Về tài sản, công nợ: Tòa án không xem xét.
  • Về án phí: anh S phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
  • (có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Anh Cao Đình S có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với Chị Mai Thị D, hiện nay đang cư trú tại Đài Loan. Vì vậy, TAND Tỉnh Thanh Hóa thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Vắng mặt tất cả các bên đương sự (Anh Cao Đình S có đơn xin xét xử vắng mặt, Chị Mai Thị D vắng mặt lần thứ hai) nên HĐXX căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các bên đương sự.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Anh Cao Đình S và Chị Mai Thị D có thời gian tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình đồng ý nên đã tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn được UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào 22/6/2009. Như vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh S chị D sống với bố mẹ chồng tại thôn xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa sau đó chuyển ra ở riêng. Tuy nhiên, thời gian chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nhiều năm anh S và Chị D đã sống ly thân, từ năm 2020 chị D đi lao động tài Đài Loan không còn liên lạc với nhau.

Do đó HĐXX có cơ sở nhận định, tình trạng hôn nhân của anh S chị D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết để anh chị được ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Hiện tại chị D đang lao động tại Đài Loan không xác định được địa chỉ nên cần giao cháu Cao Minh T, sinh ngày 04/02/2009 cho anh S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh S không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, Điều 471, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Cao Đình S

  • - Về hôn nhân: Anh Cao Đình S được ly hôn với chị Mai Thị D
  • - Về con chung: Giao cháu Cao Minh T, sinh ngày 04/02/2009 cho anh S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh S không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Chị D có quyền qua lại chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, nhưng chị D không được lạm dụng quyền thăm nom con để làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của anh S.
  • - Về tài sản, công nợ chung, riêng: Tòa án không xem xét.
  • - Về án phí: Anh Cao Đình S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng anh đã nộp theo biên lai thu số 0000647 ngày 15/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh S đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Anh Cao Đình S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Chị D có Quyền Kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS vụ án; Lưu Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 112/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger