|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2025/HN-ST
Ngày: 22/5/2025
V/v “ly hôn, t/c về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Tô Ngọc Liêm, ông Trương Phước Công
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 64/2025/TLST-HN ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST-HN ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phan Thị Thùy L, sinh năm 2003, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: ông Võ Trung T, sinh năm 1994, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 05/02/2025, nguyên đơn bà Phan Thị Thùy L trình bày:
Bà và ông T tự nguyện tìm hiểu nhau sau đó tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 07/7/2021 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, ông T thường xuyên xúc phạm, đánh đập vợ con, không chăm lo cuộc sống gia đình, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.
- Về con chung: có 01 con chung tên Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/9/2021, hiện cháu Ẩ đang sống với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Trung T1 trình bày:
Ông và bà L sống chung từ năm 2020, có đăng kí kết hôn vào năm 2021, hôn nhân do chúng tôi tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Sau khi cưới thì vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ ruột của ông tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do vợ không được lòng chị em bên chồng nên hay xảy ra cự cãi với chị em của ông. Ông cũng có nhiều lần hòa giải nhưng không được đồng thời do nhiều lần khuyên can nhưng vợ không nghe nên ông có đánh vợ (3 lần). Sau khi đánh, ông nhận thấy mình sai, có năn nỉ và xin lỗi vợ nhưng vợ không chịu nên đã bỏ đi, vợ chồng đã ly thân khoảng 6 tháng nay. Nay vợ yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý vì còn thương vợ con, muốn vợ chồng hàn gắn lại để xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi con ăn học.
Về con chung: có 01 con chung tên Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/09/2021, hiện đang sống với bà L. Trường hợp nếu Tòa án cho vợ chồng ông ly hôn thì ông đồng ý để vợ tiếp tục nuôi dưỡng con chung Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/09/2021, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T1. Về con chung, bà L yêu cầu được nuôi con chung tên Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/9/2021, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T1. Bà L được tiếp tục chăm sóc con chung tên Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/9/2021, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Phan Thị Thùy L có đơn yêu cầu ly hôn với ông Võ Trung T, ông T cư trú ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Ông Võ Trung T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà L và ông T quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 07/7/2021 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà L xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, ông T thường xuyên xúc phạm, đánh đập vợ con, không chăm lo cuộc sống gia đình. Ông T thừa nhận trong thời gian chung sống, vợ chồng cũng có xảy ra mâu thuẫn do bà L không được lòng chị em bên chồng nên hay xảy ra cự cãi với chị em của ông, ông cũng có nhiều lần hòa giải, khuyên can nhưng bà L không nghe nên ông có đánh vợ, sau đó ông cũng nhận thấy sai, có năn nỉ, xin lỗi nhưng bà L không chịu và về nhà mẹ ruột sống, vợ chồng đã ly thân khoảng 6 tháng nay.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L, ông T xuất phát từ việc trong thời gian chung sống giữa ông T, bà L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi và vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2024 đến nay. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà L, ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/09/2021, hiện đang sống với bà L. Xét thấy, con chung đang được bà L chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Tại biên bản hòa giải ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, ông T có ý kiến, trường hợp Tòa án cho vợ chồng ông ly hôn thì ông đồng ý để vợ tiếp tục nuôi dưỡng con chung Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/09/2021, ông không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, giao cháu Võ Ngọc Ẩ cho bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thùy L.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Phan Thị Thùy L được ly hôn với ông Võ Trung T.
- Về quan hệ con chung:
Bà Phan Thị Thùy L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Ngọc Ẩ, sinh ngày 14/09/2021, ông Võ Trung T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Phan Thị Thùy L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Võ Trung T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Phan Thị Thùy L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024020 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 05 tháng 02 năm 2025.
Ông Võ Trung T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 112/2025/HN-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 112/2025/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 64/2025/TLST-HN ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST-HN ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Phan Thị Thùy L, sinh năm 2003, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: ông Võ Trung T, sinh năm 1994, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
