|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2025/DS-PT
Ngày: 30-6-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Bùi Thanh Thảo |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Văn Nhum |
| Ông Bùi Văn Bình |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2025/TLPT-DS ngày 03/4/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1946; trú tại: Tổ D, ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Văn N1, sinh năm 2002; địa chỉ: số C, Quốc lộ A, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. (Có đơn xin vắng mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm: 1991 là luật sư Công ty L1, địa chỉ: khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1972, địa chỉ cư trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Văn phòng C. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn N2 – Trưởng Văn phòng C, địa chỉ trụ sở: đường N, khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin vắng mặt)
Do có kháng cáo của: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Dương Văn N1 và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Ngày 28/11/2022 bà N có đến Văn phòng C để ký giấy tờ cho cháu tên T mượn sổ đỏ làm công việc sau này bà N mới biết là mình đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Trần Thị Đ tại Văn phòng C chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, diện tích đất 180,4 m², tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị N. Mặc dù trong hợp đồng ghi số tiền chuyển nhượng đất là 100.000.000 đồng nhưng bà N không biết bà Đ và cũng không nhận tiền chuyển nhượng đất từ bà Đ. Do đó bà N khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số 00013595, quyền số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 ký giữa bà Hoàng Thị N và bà Trần Thị Đ tại Văn phòng C về việc chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, diện tích đất 180,4 m², tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị N. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nếu Toà án giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu và yêu cầu giải quyết hậu qủa pháp lý khi hợp đồng vô hiệu.
Bị đơn bà Trần Thị Đ trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Sau khi thỏa thuận miệng với nhau bà Hoàng Thị N vay của bà Trần Thị Đ số tiền 250.000.000 đồng thì vào ngày 28/11/2022, bà N và bà Đ đã đến Văn phòng C kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 về việc chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, diện tích đất 180,4 m², tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, đất được giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên bà Hoàng Thị N để đảm bảo cho khoản vay 250.000.000 đồng. Việc giao tiền vay 2 lần cũng trong 1 ngày, giao bằng tiền mặt, giao trên xe chở bà N và bà Đ đi tới VPCC là 150.000.000 đồng, khi kí xong hợp đồng chuyển nhượng đất thì giao số tiền 100.000.000 đồng tại VPCC G. Bà N và bà Đ thỏa thuận miệng thời hạn vay 1 năm, lãi suất cho vay là 12%/năm, trả lãi theo tháng nhưng từ khi vay tiền đến nay bà N chưa trả tiền lãi cho bà Đ. Bà Đ đã thực hiện xong thủ tục sang tên và bà Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà Đ. Thủ tục sang tên thực hiện ngày 07/3/2023 do khi vay tiền bà N có nói trong thời gian 2-3 tháng mà bà N không đóng tiền lãi thì bà Đ được quyền sang tên giấy chứng nhận QSD đất. Nay bà N yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 00013595, quyền số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 thì bà Đ không đồng ý. Nếu huỷ hợp đồng chuyển nhượng đất thì bà N phải trả lại số tiền đã vay của bà Đ là 250.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày ay đến này xét xử sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C có văn bản trình bày:
Ông Lê Văn N2 là trưởng Văn phòng C – đại diện theo pháp luật của Văn phòng C có ý kiến: Ngày 28/11/2022, Văn phòng C có nhận chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 theo đó bà Hoàng Thị N và bà Trần Thị Đ yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, diện tích đất 180,4 m², đất được giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên bà Hoàng Thị N. Tại thời điểm Văn phòng C chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên các bên tham gia hợp đồng đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, các giấy tờ liên quan đều hợp pháp, hợp lệ trên cơ sở thoả thuận của các bên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 được Văn phòng C chứng nhận theo đúng quy định pháp luật. Đề nghị Toà án căn cứ quy định pháp luật giải quyết nội dung tranh chấp trong vụ án. Ông N2 xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Hoàng Thị N với bị đơn bà Trần Thị Đ.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 ký giữa bà Hoàng Thị N và bà Trần Thị Đ về việc chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, diện tích đất 180,4 m², đất đứng tên bà Hoàng Thị N là vô hiệu.
Buộc bà Hoàng Thị N phải trả cho bà Trần Thị Đ số tiền vay gốc là 250.000.000 đồng.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã C, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 252790 cấp ngày 21/8/2014 đối với thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, diện tích đất 180,4 m² và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hoàng Thị N.
Bà N có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/02/2025 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn N1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 18/02/2025 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành theo hướng không chấp nhận phần buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền 250.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- - Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên hợp đồng vô hiệu, buộc bà Hoàng Thị N phải trả cho bà Trần Thị Đ số tiền 100.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
* Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của BLTTDS, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
* Về nội dung:
[2] Xét kháng cáo của ông Dương Văn N1:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thừa nhận rằng bà N có đến Văn phòng C ký giấy tờ và bà N cũng là người trực tiếp ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 do Văn phòng C chứng thực. Nội dung hợp đồng thể hiện bà Hoàng Thị N chuyển nhượng cho bà Trần Thị Đ thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34,diện tích đất 180,4m² tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Phía bà Đ cho rằng sau khi thỏa thuận miệng với nhau bà Hoàng Thị N vay của bà Trần Thị Đ số tiền 250.000.000 đồng thì vào ngày 28/11/2022 bà N và bà Đ đã đến Văn phòng C kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay 250.000.000 đồng, việc giao tiền vay 2 lần cùng trong 1 ngày và giao bằng tiền mặt. Bà Đ cũng thừa nhận việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng thực chất nhằm che giấu một hợp đồng vay tài sản.
Tuy nhiên, trên thực tế bà N cho rằng bà đến Văn phòng C để ký giấy tờ cho cháu tên T mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên làm công việc và bà N cũng không nhận tiền từ bà Đ. Để chứng minh cho lập luận trên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà N cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh có việc giao nhận tiền trực tiếp với bà N.
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bên đều không cung cấp được chứng cứ cụ thể thể hiện việc có giao nhận tiền (ai giao, ai nhận). Bà N cho rằng bà bị lừa dối, không được đọc lại cho nghe nội dung hợp đồng chuyển nhượng, không có người làm chứng, tuy nhiên bà cũng không đưa ra được chứng minh cho lời khai của mình.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 ký giữa bà Hoàng Thị N và bà Trần Thị Đ về việc chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, diện tích đất 180,4 m², đất đứng tên bà Hoàng Thị N vô hiệu là có căn cứ.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của bị đơn và người làm chứng là ông N3 và ông V để cho rằng nguyên đơn có nợ bị đơn và buộc bà N trả lại cho bà Đ số tiền 250.000.000 đồng là chưa đảm bảo. Ngoài ra, tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022, có chữ ký của người làm chứng là bà N4, bà N4 ký với vai trò là người làm chứng và xác nhận rằng bà N không biết chữ, có đọc rõ hợp đồng và bà N tự nguyện ký vào hợp đồng trên, nhưng tòa sơ thẩm không tiến hành lấy lời khai bà N4 để làm rõ nội dung vụ án là thiếu sót.
Xét thấy, các bên khi giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, giao kết là tự nguyện không bị ép buộc. Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng thể hiện số tiền các bên thỏa thuận chuyển nhượng là 100.000.000 đồng, khi hợp đồng vô hiệu cần hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, vì vậy buộc bà Hoàng Thị N phải trả cho bà Trần Thị Đ số tiền ghi trong hợp đồng là 100.000.000 đồng.
[3] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của ông Dương Văn N1. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng. Ngoài ra, bà Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[5] Chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 ký giữa bà Hoàng Thị N và bà Trần Thị Đ bị tuyên vô hiệu do giả tạo nên mỗi bên chịu ½ chi phí tố tụng, do nguyên đơn đã tạm ứng trước nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 1.500.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà N được chấp nhận nên bà N không phải chịu.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn N1;
Sửa một phần nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các điều 147, 165, 228, 266; 267, 271 và Điều 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 117, 124, 131, 246, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Hoàng Thị N với bị đơn bà Trần Thị Đ.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số 00013595, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/11/2022 ký giữa bà Hoàng Thị N và bà Trần Thị Đ về việc chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, diện tích đất 180,4 m², đất đứng tên bà Hoàng Thị N là vô hiệu.
Buộc bà Hoàng Thị N phải trả cho bà Trần Thị Đ số tiền là 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
-
Sau khi bà Hoàng Thị N thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, bà Trần Thị Đ có nghĩa vụ trả lại cho bà Hoàng Thị N giấy chứng nhận quyền sử dụng số BU 252790, diện tích 180,4 m², thửa đất số 250, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại khu phố G, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, số vào sổ CH-04672 do Ủy ban nhân dân huyện C (nay là thị xã C) cấp ngày 21/8/2014 cho bà Hoàng Thị N.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào Bản án của Tòa án để điều chỉnh hủy chỉnh lý pháp lý sang tên bà Trần Thị Đ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 252790 do Ủy ban nhân dân huyện C (nay là thị xã C) cấp ngày 21/8/2014 cho bà Hoàng Thị N.
Các đương sự có quyền, trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để tiến hành thủ tục hủy chỉnh lý pháp lý sang tên bà Trần Thị Đ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 252790 do Ủy ban nhân dân huyện C (nay là thị xã C) cấp ngày 21/8/2014 cho bà Hoàng Thị N.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị N được miễn án phí. Bà Hoàng Thị N được trả lại số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012470 ngày 06/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành
Bị đơn bà Đ phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng.
- Chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Trần Thị Đ phải trả lại cho bà Hoàng Thị N chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 1.500.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà N không phải chịu.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Thảo |
Bản án số 112/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 112/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị N khởi kiện bà Trần Thị Đ
