Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NDTP HÀ NỘI

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HSST

Ngày 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huy Cương.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Quý và ông Nguyễn Đình Cất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Oai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Oai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TL.HSST ngày 11/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/HSST – QĐ ngày 13/11/2024 đối với bị cáo:

Phạm Đình T, sinh năm 2005 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; N ghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Phạm Đình U và bà Nguyễn Thị T1;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 22/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (chấp hành xong án phạt tù ngày 20/5/2024);

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; Có mặt.

- Bị hại: Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1966; Thường trú: Thôn T, xã M, huyện T, Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đình T sinh ngày 04/01/2005, nơi thường trú tại thôn Đ, xã B, huyện T, Hà Nội là đối tượng có 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản, vừa chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 20/5/2024. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, T tiếp tục nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người khác.

Khoảng 16h ngày 13/8/2024, Phạm Đình T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, không đeo biển số, đi từ nhà ra đường Q sau đó rẽ vào đường tỉnh lộ 427 theo hướng xã B đi xã T, quan sát người đi đường, tìm kiếm xem ai để tài sản sơ hở để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Đến khoảng 16h30' cùng ngày, khi đi đến địa phận thôn S, xã B, huyện T, T phát hiện bà Ngô Thị T2, sinh năm 1966, trú tại thôn T, xã M, huyện T điều khiển xe máy điện chở theo cháu ngoại là Nguyễn Thị M, sinh năm 2014 đi phía trước cùng chiều, trên cổ bà T2 đeo 01 sợi dây chuyền vàng. Thấy vậy, T điều khiển xe đi vượt lên, áp sát phía bên trái xe máy điện của bà T2 rồi đưa tay phải ra giật sợi dây chuyền vàng của bà T2 rồi tăng ga bỏ chạy về hướng xã T.

Sau đó, Phạm Đình T đã mang sợi dây chuyền trên đến Cửa hàng mua bán vàng bạc “Duy Đằng” của ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1974 ở Tổ C, phường P, quận H, Hà Nội và bán cho ông Đ với giá 9.000.000đ. T tiếp tục đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Mạnh Mobile ở thôn T, xã C, huyện T, dùng số tiền vừa bán sợi dây chuyền để mua 01 chiếc điện thoại Iphone12 màu tím với giá 8.600.000đ và tiêu xài hết số tiền còn lại.

Cùng ngày 13/8/2024, bà Ngô Thị T2 đã đến Công an xã B để trình báo sự việc bị cướp giật tài sản.

Ngày 14/8/2024, Công an huyện T đã phối hợp với Công an xã B tiến hành rà soát hình ảnh camera, nhân chứng và triệu tập Phạm Đình T đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung nêu trên.

Ngày 15/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Đình T.

Vật chứng thu giữ: 01 khối kim loại màu vàng, dạng hình tròn dẹt, đường kính khoảng từ 1,7 cm đến 1,9 cm, độ dày nhất là 0,7 cm, trọng lượng 03 chỉ 03 phân 03 ly (do ông Vũ Văn Đ giao nộp); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, không đeo biển số, số máy: JK03E-6387459, số khung: RLHJK0343RZ471940 (thu giữ của Phạm Đình T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12, màu tím đã qua sử dụng, số IMEI: 359763129220216 (thu giữ của Phạm Đình T).

Tại Kết quả giám định kim loại quý số 2008/2024 ngày 20/8/2024 của Trung tâm nghiên cứu và kiểm định đá quý và vàng xác định: Mẫu kim loại thô có trọng lượng 12,50g (3,33 chỉ) có hàm lượng vàng ~ 12,38%.

Tại Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - UBND huyện T kết luận: “01 (một) khối kim loại màu vàng, dạng hình tròn dẹt, đường kính khoảng từ 1,7 cm - 1,9 cm, độ dày nhất là 0,7 cm, trọng lượng 03 chỉ 03 phân 03 ly (12,5 g), hàm lượng vàng ~ 12,38% trị giá 2.950.000₫”. Thời điểm định giá: ngày 13/8/2024.

Đối với ông Vũ Văn Đ - Chủ cửa hàng mua bán vàng bạc “D” là người đã mua lại sợi dây chuyền tang vật từ Phạm Đình T với giá 9.000.000đ. Qua điều tra xác định ông Đ không quen biết Phạm Đình T, không biết sợi dây chuyền T bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

Đối với sợi dây chuyền vật chứng của vụ án, bà Ngô Thị T2 khai mua sợi dây chuyền từ năm 2022 với giá 10.000.000đ, không nhớ mua ở đâu, đến nay không còn hóa đơn, giấy tờ gì. Sau khi chiếm đoạt được sợi dây chuyền vàng của bà Ngô Thị T2, Phạm Đình T đã bán cho ông Vũ Văn Đ với giá 9.000.000đ. Tại Cơ quan điều tra, ông Đ khai sau khi mua sợi dây chuyền trên của T, ông Đ khò và nung chảy thành khối kim loại màu vàng. Ngày 16/8/2024 ông Đ đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Vì vậy, cần chuyển 01 khối kim loại màu vàng, trọng lượng 12,50g (3,33 chỉ) có hàm lượng vàng ~ 12,38% cho Kho bạc Nhà nước để giải quyết trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng là phương tiện T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định, chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của T, do T mua ngày 03/8/2024 tại Cửa hàng xe máy N, địa chỉ số A đường G, phường T, quận H, Hà Nội. Do đó, cần chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự để giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 có nguồn gốc là tài sản do T sử dụng số tiền đã bán sợi dây chuyền tang vật của vụ án để mua nên cần chuyển cho cho Chi cục thi hành án dân sự để giải quyết theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra vụ án, gia đình Phạm Đình T đã tự nguyện bồi thường cho bà T2 số tiền 9.000.000đ. Bà T2 đã nhận đủ số tiền này, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Đối với ông Vũ Văn Đ là người mua sợi dây chuyền từ Phạm Đình T, gia đình T đã tự nguyện bồi thường cho ông Đ 9.000.000đ, ông Đ không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Phạm Đình T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Bị cáo không có ý kiến gì về bản cáo trạng; Khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra và xin giản nhẹ hình phạt.
  • - Bị hại bà Ngô Thị T2 trình bày đã nhận được từ gia đình bị cáo số tiền tương đương giá trị dây chuyền bị chiếm đoạt nên đến nay không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì khác và đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa có quan điểm giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Đình T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị xử phạt Phạm Đình T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước xe máy, điện thoại; trả cho bị cáo khối kim loại màu vàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cơ bản đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 13/8/2024, Phạm Đình T điều khiển xe máy Honda Vision màu trắng, không đeo biển số đi trên đường T với mục đích giật tài sản của người khác, sau đó bán lấy tiền tiêu xài. Khi T đi đến địa phận thôn S, xã B, huyện T, Hà Nội thì nhìn thấy bà Ngô Thị T2 điều khiển xe máy điện đi phía trước cùng chiều, trên cổ bà T2 đeo một sợi dây chuyền vàng trị giá 2.950.000đ, T đã điều khiển xe máy áp sát bà T2 và dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng, sau đó nhanh chóng phóng xe tẩu thoát.

Nhân thân bị cáo có 01 tiền án ngày 22/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm.

Với hành vi cố ý phạm tội nêu trên và nhân thân bị cáo Tái phạm nguy hiện, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Phạm Đình T về tội “Cướp giật tài sản”. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Khi lượng hình thấy nhân thân bị cáo xấu, tuy nhiên tại giai đoạn xét xử hậu quả vụ án đã được khắc phục toàn bộ (bà Ngô Thị T3 đã nhận từ gia đình bị cáo số tiền bồi thường tương đương tài sản bị chiếm đoạt; anh Vũ Văn Đ đã nhận từ gia đình bị cáo số tiền mua dây chuyền vàng mà bị cáo chiếm đoạt của bà T3); tại phiên tòa khai báo thành khẩn; bà T3 xin giảm hình phạt nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Trách nhiệm dân sự:

Bà Ngô Thị T3 và anh Vũ Văn Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác về dân sự nên không xét.

[4] Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe máy thu giữ của bị cáo;

Trả lại bị cáo điện thoại đã thu giữ vì không liên quan đến hành vi phạm tội;

Về dây chuyền vàng chiếm đoạt của bà T2 bị cáo đã bán cho ông Đ, ông Đ khai sau khi mua sợi dây chuyền của bị cáo, đã khò và nung chảy thành khối kim loại màu vàng. Ngày 16/8/2024 ông Đ đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Xét thấy gia đình bị cáo đã trả bà T3 tiền tương đương giá trị dây chuyền bị cáo chiếm đoạt và trả ông Đ tiền mua dây chuyền bị cáo chiếm đoạt của bà T3. Đến nay bà T2, ông Đ không yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự nên trả cho bị cáo khối kim loại màu vàng ông Đ đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Phạm Đình T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Áp dụng: điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạm Đình T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, không đeo biển số, số máy JK03E-6387459, số khung RLHJK0343RZ471940;
  • - Trả lại Phạm Đình T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu tím, số IMEI: 359763129220216.

Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 19/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.

Trả cho Phạm Đình T 01 (một) khối kim loại màu vàng, hiện được bảo quản trong 01 (một) túi nilong được niêm phong trong phong bì thư bằng giấy, các mép được dán kín, có chữ ký của đồng chí Lê Thanh X – cán bộ Công an huyện T và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện T tại các mép dán.

Vật chứng hiện lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước T4 theo Biên bản giao nhận tài sản số 01/2024/BBBG-CSĐT-HS ngày 26/11/2024 giữa Công an huyện T và Kho bạc Nhà nước T4.

4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

  • - Bị cáo Phạm Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) - án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị hại bà Ngô Thị T3 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Thanh Oai;
  • - Công an huyện Thanh Oai;
  • - Chi cục THA DS huyện Thanh Oai;
  • - Kho bạc Nhà nước huyện Thanh Oai;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Trại tạm giam số 2 CAHN;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huy Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 112/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Đình T - Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger