|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 112/2024/HSST Ngày: 11/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Oanh – Phó ban dân vận huyện ủy.
Bà Vũ Thị Tịnh – Cán bộ hưu trí xã An Vĩ.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Vân – Thẩm tra viên.
Đại diện VKSND huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Tuấn A - KSV.
Hôm nay, ngày 11/11/2024, tại Trụ sở TAND huyện Khoái Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/HSST ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 13/2024/HSST-QĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo: Đỗ Đức T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 8 năm 1980; HKTT: thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đỗ Nho H, sinh năm 1955; con bà Lê Thị V, sinh năm 1960; Vợ là: Nguyễn Thị Y (Đã chết); Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/02/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/5/2012, chấp hành xong án phí ngày 02/7/2012; Ngày 16/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2021; Ngày 22/7/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/11/2023. T bị bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên tòa).
*/ Người bị hại:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1968;
- Ông Đỗ Nho C, sinh năm 1965;
Đều trú tại: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Đều có mặt tại phiên tòa).
*/ Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Thanh L, sinh năm 1993;
- Anh Đỗ Nho T1, sinh năm 1989;
Đều trú tại: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Lê Thế M, sinh năm 1973; Trú tại: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên
- Anh Đỗ Quang H2, sinh năm 1990; HKTT: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Hiện đang chấp hành án tại phân trại số E, Trại giam T3, Thanh Hóa.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
* Những người làm chứng:
- Anh Lê Văn T2, sinh năm 1987;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950;
- Anh Đỗ Văn H3, sinh năm 1991.
Đều trú tại: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 01 năm 2018, qua nói chuyện với Đỗ Thanh L sinh năm: 1993 ở thôn M, xã T, huyện K, Đỗ Đức T biết nhà bà Lê Thị H1 sinh năm 1968 ở thôn M, xã T, huyện K có đồ cổ là chiếc mâm đồng và 02 lọ lục bình màu xanh trắng. Khoảng 20 giờ ngày 05/01/2018, T đi bộ một mình đến nhà bà H1 mục đích trộm cắp chiếc mâm đồng và 02 lọ lục bình để bán lấy tiền tiêu xài. Tại đây, T quan sát thấy nhà bà H1 chỉ có cụ Đỗ Thị Đ (là mẹ chồng của bà H1, mắt kém không quan sát được) ở nhà. T trèo qua tường bao vào trong nhà bà H1 rồi đi vào trong buồng. Do trời tối, T bật đèn flash soi và tìm thấy chiếc mâm đồng ba chân màu vàng đen ở trên nóc tủ lạnh, cạnh cửa ra vào. T dùng hai tay bê chiếc mâm đồng cắp vào nách đi ra khỏi nhà rồi trèo qua tường bao để đi ra ngoài. Sau khi lấy trộm được chiếc mâm đồng, T mang về giấu tại đống gỗ trước cửa nhà T.
Sáng ngày 06/01/2018, T gặp L và kể với L về việc lấy trộm được chiếc mâm đồng của nhà bà H1. Chiều cùng ngày, T rủ L đi chơi cùng T. T cho chiếc mâm đồng vào bao tải dứa rồi đặt tại khung trước xe máy và chở L ngồi sau đi đến nhà anh Lê Thế M (tên thường gọi là B) sinh năm 1973 ở thôn H, xã T, huyện K. Khi đến nhà anh M, T nói với M: “Cho em gửi nhờ cái mâm đồng”. M đồng ý, nói: “em vứt trên giường trong buồng”. Sau đó, T hỏi vay M số tiền 1.500.000đ. M không muốn cho T vay vì sợ T không trả được, T nói với M: “Anh cứ cho em vay tiền, vài ngày nữa em trả nếu em không trả được thì anh mang cái mâm bán đi đâu thì bán”. M đồng ý và đưa tiền cho T, T cầm tiền rồi cùng L đi về. Khoảng 02 ngày sau, vẫn thủ đoạn như lần trước, T tiếp tục vào nhà bà H1 lấy trộm 02 chiếc lọ lục bình để trên kệ gỗ cạnh khu vực giá để bát đũa ở trong bếp, rồi nhờ Đỗ Quang H2 sinh năm 1990 ở thôn M, xã T, huyện K chở T mang đi bán tại thành phố Hải Phòng với giá 7.500.000đ (không rõ địa chỉ). Do không thấy T quay lại trả tiền, M đã mang chiếc mâm đồng đến gặp chị L1 (không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể) ở khu vực thành phố H (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) để gửi.
Ngày 21/02/2018, bà H1 có đơn trình báo Công an xã T về việc: Gia đình bà H1 phát hiện bị mất chiếc mâm đồng. Nội dung trình bày: Gia đình bà bị mất chiếc mâm đồng và hai lọ lục bình, anh Đỗ Nho T1 sinh năm 1989 (là con trai bà H1) nhờ anh Lê Văn T2 sinh năm 1987 ở cùng thôn và Đỗ Quang H2 đi tìm hỏi xem ai là người đã lấy trộm mâm đồng và 02 lọ lục bình. H2 và anh T2 đã tìm đến nhà Lê Thế M để hỏi. Lúc này, M cho biết có giữ một chiếc mâm như anh T2 miêu tả do T gửi nhờ và T có mượn anh M số tiền 1.500.000đ. Anh T2 gọi điện cho anh T1 để lấy số tiền 1.500.000₫ đưa cho anh M, sau khi nhận tiền anh M đã lấy chiếc mâm đồng về trả lại cho bà H1. Ngày 28/01/2018, anh T2 chở T và L đến nhà bà H1 xin lỗi. Tại đây, T nhận là người trộm cắp chiếc mâm đồng và hai lọ lục bình, T hứa sẽ tìm lại hai chiếc lọ trả cho gia đình bà H1. Tuy nhiên, T không trả lại được hai chiếc lọ lục bình nên bà H1 đã trình báo vụ việc và giao nộp chiếc mâm đồng cho Cơ quan điều tra. Tại Cơ quan điều tra: T khai nhận việc một mình trộm cắp chiếc mâm đồng và cùng H2 trộm cắp hai chiếc lọ lục bình nhà bà H1 rồi H2 mang đi bán. Tuy nhiên H2 không thừa nhận cùng T trộm cắp hai chiếc lọ lục bình mà chỉ chở T đi bán hai chiếc lọ lục bình tại thành phố Hải Phòng, H2 không biết tài sản do trộm cắp mà có. Ngày 11/10/2018, Cơ quan điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 192 đối với chiếc mâm đồng tại Bộ V1 để xác định có phải là cổ vật không. Bản kết luận giám định ngày 15/11/2018 của Bộ V1 kết luận: “Đây là cổ vật thuộc loại mâm thờ, chất liệu đồng. Phong cách, hoa văn, họa tiết và kỹ thuật hàn chân đế của mâm đồng thể hiện niên đại đầu thế kỷ XX, vào cuối thời Nguyễn”. Cơ quan điều tra Công an huyện K đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K; Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Hưng Yên và Hội đồng định giá tài sản ở Trung ương về việc yêu cầu định giá đối với chiếc mâm đồng và 02 chiếc lọ lục bình bị trộm cắp có đặc điểm nêu trên. Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K và tỉnh Hưng Yên đã có văn bản trả lời về việc từ chối, không định giá được đối với chiếc mâm đồng và 02 chiếc lọ lục bình; Bộ T4 có văn bản đã trả lời: Căn cứ các quy định của Chính phủ về thành lập Hội đồng định giá; việc định giá đối với tài sản là một mâm đồng và hai lọ lục bình không thuộc trường hợp thành lập Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự theo vụ việc cấp bộ để định giá lần đầu và định giá lại theo quy định tại khoản 1, Điều 1, Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung khoản 4, Điều 6 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/2/2018). Do đó, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục đề nghị Hội đồng định giá tài sản cấp tỉnh hoặc cấp huyện thực hiện định giá theo quy định. Tuy nhiên, ngày 14/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K có văn bản trả lời: từ chối định giá tài sản theo yêu cầu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và ngày 04/9/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Hưng Yên có văn bản trả lời: đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục phối hợp với Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K tiếp tục tiến hành thu thập thông tin, căn cứ định
giá, sử dụng phương pháp định giá phù hợp với loại tài sản và các quy định khác liên quan, tiến hành định giá tài sản theo quy định. Đến ngày 13/9/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện K tiếp tục có Công văn số 33, từ chối định giá tài sản đối với chiếc mâm đồng và 02 chiếc lọ lục bình. - Đối với chiếc mâm đồng: Cơ quan điều tra Công an huyện K đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà H1. - Đối với 02 chiếc lọ lục bình, T và H2 khai mang bán tại khu vực thành phố Hải Phòng nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể, vì vậy Cơ quan điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xác minh, truy tìm. - Đối với Đỗ Thanh L: Lam không hứa hẹn từ trước với T về việc trộm cắp chiếc mâm đồng và hai lọ lục bình. Mặc dù L biết T trộm chiếc mâm đồng nhà bà H1 nhưng vẫn đi cùng T mang chiếc mâm đến nhà anh M để gửi. Hành vi của L có dấu hiệu của tội Che giấu tội phạm quy định tại Điều 389 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, L không được hưởng lợi gì từ T, hành vi của T phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, hành vi của Đỗ Thanh L không đủ yếu tố cấu thành tội Che giấu tội phạm. - Đối với Đỗ Quang H2: H2 không thừa nhận hành vi cùng T trộm cắp 02 chiếc lọ lục bình, cũng không có chứng cứ nào chứng minh H2 cùng T thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc lọ lục bình. Khi H2 cùng T mang 02 chiếc lọ lục bình đi bán H2 không biết đó là tài sản do T trộm cắp mà có. Mặt khác, Cơ quan điều tra Công an huyện K đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K và tỉnh Hưng Yên định giá hai chiếc lọ lục bình nhưng đều từ chối định giá. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xử lý đối với H2. - Đối với Lê Thế M: Trước khi cho T gửi chiếc mâm đồng, M không bàn bạc, hứa hẹn trước với T. Khi cho T gửi, M không biết chiếc mâm đồng là do T trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện K không có căn cứ xử lý đối với anh M. - Về dân sự: Bà Lê Thị H1 và Đỗ Nho C đề nghị được bồi thường tổng số tiền 21.500.000 đồng bao gồm: 1.500.000đ tiền lấy chiếc mâm đồng từ M và 20.000.000đ tiền giá trị của hai lọ lục bình. Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS – KC, ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Đỗ Đức Thành về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay:
[1]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết vì các bị hại và bị cáo đều không đề nghị đặt ra giải quyết trong vụ án này mà để các bị hại và bị cáo tự thoả thuận với nhau.
[2]. Bị cáo T nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải. Được nói lời sau cùng bị cáo T xin lỗi các bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.
[3]. Người bị hại: Bà Lê Thị H1 và ông Đỗ Nho C trình bày giai đoạn điều tra và chuẩn bị xét xử thì ông C, bà H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường ông bà tổng số tiền 21.500.000đ. Trong đó, có 1.500.000đ gia đình bà H1 phải bỏ ra chuộc lại chiếc mâm đồng và 20.000.000đ giá trị của 02 lọ lục Bình. Tuy nhiên, vì cùng thôn, xã với bị cáo nên hơn ai hết ông C, bà H1 hiểu rất rõ hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, vợ và mẹ bị cáo đã mất, một mình bị cáo phải nuôi con và một người bố già cả ốm yếu, kinh tế thì khó khăn. Do vậy, ông C và bà H1 có quan điểm đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Ông C, bà H1 tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo tại ngoại để bị cáo có điều kiện cải tạo tốt nhất, lao động kiếm tiền giúp đỡ gia đình, phụng dưỡng bố già.
Về trách nhiệm dân sự: Ông C, bà H1 không yêu cầu đặt ra giải quyết trong vụ án này mà để ông C, bà H1 và bị cáo tự giải quyết, thoả thuận với nhau về việc bồi thường và mức bồi thường trên cơ sở tình cảm làng xóm láng giềng. Kể cả có thoả thuận xong mà bị cáo không thực hiện bồi thường thì ông C và bà H1 cũng không quan trọng, không có ý kiến gì, tuỳ lương tâm bị cáo. Ông C, bà H1 cam kết không bao giờ khiếu nại về nghĩa vụ bồi thường của bị cáo đối với ông bà.
[4]. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Thanh L, anh Đỗ Nho T1, ông Lê Thế M, anh Đỗ Quang H2 và những người làm chứng là anh Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị N, anh Đỗ Văn H3 đều đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án họ đã có lời khai, quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của BLTTHS năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Mặc dù, bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhà bà H1, ông C vào ngày 05 và ngày 07/01/2018 nhưng đến ngày 14/8/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K mới ban hành quyết định khơi tố bị can số 178/QĐ.KTBC là đã quá 05 năm nhưng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vì trong thời hạn 05 năm nêu trên, T đã hai lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” và lần gần đây nhất là ngày 15/5/2021 nên tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HSST, ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động đã xử phạt T 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, thời hiệu khởi tố vụ án đối với hành vi trộm cắp tài sản nhà bà H1 và ông C được tính lại từ đầu kể từ ngày T phạm tội mới (Ngày 15/5/2021). Như vậy, về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình tài liệu, chứng cứ, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường, đơn trình báo và lời khai của người bị hại là bà Lê Thị H1 và ông Đỗ Nho C, kết luận giám định, lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Thanh L, anh Đỗ Nho T1, anh Lê Thế M và anh Đỗ Quang H2, lời khai của những người làm chứng là anh Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị N và anh Đỗ Văn H3, vật chứng thu giữ được và phù hợp với tất cả các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2018 đến ngày 07/01/2018, Đỗ Đức T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc mâm đồng là cổ vật và 02 chiếc lọ lục bình của gia đình bà Lê Thị H1 ở thôn M, xã T, huyện K để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, sau đó đã bị phát hiện. Đối với chiếc mâm đồng thì cơ quan tiến hành tố tụng đã trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự từ trung ương đến địa phương và các cơ quan chuyên môn khác nhưng đều có chung kết quả trả lời từ chối định giá là vượt quá khả năng hoặc không đúng thẩm quyền. Đối với 02 lọ lục bình thì không thu hồi được, không giám định được, không định giá được nhưng trên thực tế bị cáo T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh H2 đều thừa nhận đã bán 02 lọ lục bình đã trộm cắp được nhà ông C, bà H1 được số tiền 7.500.000đ. Nên căn cứ vào Bản kết luận giám định ngày 15/11/2018 của Bộ V1 kết luận: “Đây là cổ vật thuộc loại mâm thờ, chất liệu đồng. Phong cách, hoa văn, họa tiết và kỹ thuật hàn chân đế của mâm đồng thể hiện niên đại đầu thế kỷ XX, vào cuối thời Nguyễn” và số tiền thực tế bị cáo T bán 02 lọ lục bình của nhà ông C, bà H1 được 7.500.000đ để xác định định khung hình phạt và buộc bị cáo phải có trách nhiệm, nghĩa vụ dân sự đối với các bị hại. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 109/QĐ-VKS – HS, ngày 04/10/2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đang trong độ tuổi lao động, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, lẽ ra bị cáo phải tích cực lao động để tạo thu nhập chính đáng tự nuôi sống bản thân và phụ giúp cho gia đình, trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình, cho xã hội nhưng chỉ vì ham chơi, đua đòi muốn ăn chơi hưởng thụ trên mồ hôi công sức của người khác mà bị cáo có hành vi lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết chấp hành và tuân thủ pháp luật.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ ngày 05/01/2018 đến ngày 07/01/2018, bị cáo T đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản, mỗi hành vi đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị cáo T bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo với thái độ ăn năn hối cải; Bố của bị cáo T là ông Đỗ Nho H được tặng thưởng H4, huy chương kháng chiến; những người bị hại là ông C và bà H1 tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo nên bị cáo T được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 của Điều 51 của BLHS.
Xét về nhân thân: Bị cáo T là người có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị đưa ra xét xử về cùng loại tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong các bản án nêu trên, bị cáo đều không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn chứng nào tật ấy,
Sau khi xem xét nhân thân, diễn biến vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt thì thấy rằng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS là thiếu sót nên Hội đồng xét xử sẽ bổ sung tình tiết tăng nặng này. Tuy nhiên về mức hình phạt mà đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo vẫn phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 của BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của bà Lê Thị H1 và ông Đỗ Nho C về việc ông C, bà H1 không yêu cầu đặt ra giải quyết trong vụ án này mà để ông C, bà H1 và bị cáo tự thoả thuận giải quyết với nhau về việc bồi thường và mức bồi thường thì thấy rằng: Ông C, bà H1 và bị cáo đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đề nghị của ông C, bà H1 và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội có lợi cho bị cáo và được bị cáo nhất trí nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc mâm đồng Cơ quan điều tra Công an huyện K đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà H1, ông C là đúng quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 16/8/2024).
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đỗ Nho C, bà Lê Thị H1 và bị cáo Đỗ Đức T về việc không yêu cầu đặt ra giải quyết trong bản án này mà để các bên tự thoả thuận việc bồi thường và mức bồi thường với nhau.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Đức T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của BLTTHS năm 2015. Báo cho bị cáo, các bị hại có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 11/11/2024), báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 112/2024/HSST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 112/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
