Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Việt Hoàng;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bỉnh Quân;

2. Bà Nguyễn Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Vũ Xuân M, sinh năm: 1980; nơi thường trú: Khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân T (đã chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1933; gia đình có 09 anh em, bị cáo là con thứ chín; vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1981 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 31/5/2024; hiện tại ngoại; có mặt.
  2. Trần Đức Q, sinh năm: 1976; nơi thường trú: Khu phố M, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T1 (đã chết) và bà Trương Thị T2, sinh năm 1949; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ là Nguyễn Thúy Đ, sinh năm 1981 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 31/5/2024; hiện tại ngoại; có mặt.
  3. Nguyễn Hữu T3, sinh năm: 1980; nơi thường trú: thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1956; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Hà Thị N1, sinh năm 1982 và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 31/5/2024; hiện tại ngoại; có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đăng Q1, sinh năm 1979; trú tại: Khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  • * Người làm chứng: Ông Lưu Văn M1, sinh năm 1966; trú tại: Khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  • * Người chứng kiến:
    1. Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1987; trú tại Khu phố Đ, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
    2. Anh Nguyễn Đăng Q2, sinh năm 1987; trú tại Khu phố Đ, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 26/5/2024, sau khi ăn cỗ tại nhà anh Nguyễn Đăng Q1, Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 đi ra quán cầm đồ của gia đình anh Nguyễn Đăng Q1, sinh năm 1979 ở khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (cách chỗ ăn cỗ khoảng 200m) để uống nước và được anh Lưu Văn M1 (là chú của anh Q1) mở cửa cho vào. Tại đây M, Q, T3 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh sâm trong phòng ngủ của quán. M, Q, T3 ngồi trên tấm thảm màu xanh được trải sẵn dưới nền nhà. M lấy bộ bài tú lơ khơ cũ có sẵn trong phòng để đánh bạc dưới hình thức đánh sâm được thua bằng tiền. Khi chơi bạc, M bỏ ra 10.700.000 đồng, T3 và Q mỗi người bỏ ra 10.000.000 đồng. Quá trình chơi, cả M, T3 và Q đều có ván thắng, có ván thua. Đến thời điểm bị lực lượng Công an bắt quả tang, tại vị trí của M ngồi có 14.200.000 đồng, tại ví trí của T3 ngồi có 8.600.000 đồng; tại vị trí của Q ngồi có 7.900.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 30.700.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 102/CT-VKSBN-P2 ngày 12/8/2024 của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, cả 03 bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố là đúng. Các bị cáo khai do có uống rượu khi ăn cỗ nên các bị cáo không về ngay mà ngồi lại uống nước, sau đó mới phát sinh việc đánh bạc. Các bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, lần đầu phạm tội, mong HĐXX khoan hồng cho các bị cáo cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 phạm tội “Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Q và T3); Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt:

Vũ Xuân M, Trần Đức Q, Nguyễn Hữu T3 mỗi bị cáo 20.000.000 đồng nộp Ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 thảm không còn giá trị sử dụng.

Các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 đều đồng ý với nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận, mong HĐXX khoan hồng cho các bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. [2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, chứng cứ khác có trong hồ sơ, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 26/5/2024, tại quán cầm đồ của gia đình anh Nguyễn Đăng Q1 ở khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh sâm ăn tiền. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 30.700.000 đồng; trong đó Vũ Xuân M dùng 10.700.000đ, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 mỗi bị cáo dùng 10.000.000đ để đánh bạc. Vì vậy, có đủ căn cứ để xét xử các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét vai trò đồng phạm, HĐXX thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn, cả 03 bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 cùng rủ nhau đánh bạc, số tiền bỏ ra đánh bạc của các bị cáo tương đương nhau nên có vai trò ngang nhau.
  5. [5] Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX: Các bị cáo quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 đều có bố đẻ có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng H2, Huy chương kháng chiến nên Q và T3 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  7. [7] Căn cứ vào nhân dân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, quy mô đánh bạc của các bị cáo, HĐXX thấy các bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, số tiền đánh bạc không lớn do đó cần khoan hồng cho các bị cáo áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
  8. [8] Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  9. [9] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đối với số tiền các bị cáo đánh bạc cần thu nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 thảm có giá trị nhỏ, anh Q1 không đề nghị gì nên cần tịch thu tiêu hủy.
  10. [10] Những vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Đăng Q1 chủ nhà, anh Lưu Văn M1 là người mở cửa cho các bị cáo vào uống nước đều không biết việc các bị cáo đánh bạc nên không xem xét, xử lý là đúng quy định pháp luật.
  11. [11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 đối với Q và T3); Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Tuyên bố các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 phạm tội “Đánh bạc".

    Xử phạt Vũ Xuân M, trần Đức Q, Nguyễn Hữu T3 mỗi bị cáo 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 30.700.000 đồng đã được chuyển vào tài khoản 3949.0.1054440.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh tại kho bạc nhà nước B theo giấy nộp tiền ngày 15/8/2024.

    Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân; 01 thảm kích thước 2*3m màu xám có hoa văn hình vuông.

    (Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 133/2024 ngày 16/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Xuân M, Trần Đức Q và Nguyễn Hữu T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT (PC 02) CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VU XUAN M PHAM TOI DANH BAC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger