TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 23/7/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Huệ.
2. Ông Nguyễn Hữu Hoan.
Thư ký phiên tòa: Ông Vi Hoàng Tùng – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 07/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Lê Thành G; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 01/01/1983 tại thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
Nơi thường trú: Ấp K, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; Nơi tạm trú: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Đ, sinh năm 1958 và bà: Nguyễn Thị Đ1 (Không rõ năm sinh); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng theo Quyết định tạm giam số 172/2024/HSST-QĐTG ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
- Người có quyền lợi liên quan: Anh Ma Văn T, sinh năm: 1984;
Trú tại: Xóm P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 21/03/2024 tại khu vực tổ F, phường Đ, thành phố C, Công an thành phố C bắt quả tang Lê Thành G (Sinh ngày: 01/01/1983; Trú tại: Ấp Q, xã T, thị trấn D, tỉnh Trà Vinh) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:
- + 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột thu giữ ở đâu túi áo đằng trước bên trái G đang mặc (G khai nhận là H) do G tự giác giao nộp.
- + 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ OPPO, số IMEI: 865613055997716, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- + 01 (một) xe mô tô màu xanh, có chữ HONDA Wave, BKS: 11B1-33769.
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 21/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật chất bột màu trắng thu giữ của Lê Thành G, kết quả: Tang vật quả tang có khối lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam).
Ngày 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 392 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 214 ngày 27/03/2024 của Phòng K, Công an tỉnh C, kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin)".
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/03/2024, G một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 11B1-337.69 đến khu vực gần cổng Công ty G1 (thuộc tổ F, phường Đ, thành phố C) tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, G gặp một người đàn ông không quen biết, có biểu hiện giống người sử dụng ma túy. Giêng hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy và được người này bán cho 01 (một) gói ma túy gói bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi mua được ma túy, G cất vào túi đằng trước bên trái chiếc áo Giêng đang mặc rồi điều khiển xe mô tô tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ F, phường Đ, thành phố C thì bị Cơ quan công an kiểm tra phát hiện, thu giữ gói ma túy của G và lập biên bản, niêm phong tang vật theo quy định pháp luật.
Hành vi của Lê Thành G đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKSTP ngày 05/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lê Thành G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành G thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và nhất trí với khối lượng heroin bị thu giữ là 0,13 gam. Bị cáo khai nhận bản thân sử dụng ma túy (heroine) từ năm 2013 bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Ngày 21/3/2024 bị cáo mua ma tuý với mục đích để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1-337.69 là của bạn bị cáo - anh Ma Văn T. Anh T không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và các lời khai trong hồ sơ của người có quyền lợi liên quan Ma Văn T thể hiện: Anh là bạn của bị cáo G. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 11B1-337.69 là của anh. Anh không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy. Anh đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Thành G; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Thành G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong có chứa ma tuý thu giữ của bị cáo Lê Thành G; trả lại điện thoại di động màu trắng, có chữ OPPO, số IMEI: 865613055997716, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Lê Thành G do không liên quan đến hành vi phạm tội. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 21/3/2024 tại khu vực tổ F, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Công an thành phố C bắt quả tang Lê Thành G có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (không phẩy mười ba gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lê Thành G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Lê Thành G là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Lê Thành G, bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét toàn diện hoàn cảnh, nhân thân; tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đưa ra hình phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố đối với bị cáo là phù hợp và vẫn đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo; cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về hình phạt chính:
- Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu, tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định vì là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
Cần trả lại điện thoại di động màu trắng, có chữ OPPO, số IMEI: 865613055997716, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Lê Thành G do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Về những vấn đề khác:
- Đối với nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, Lê Thành G khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực vực gần cổng Công ty G1 (thuộc tổ F, phường Đ, thành phố C); việc trao đổi không ai biết, chứng kiến nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xác minh.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát: 11B1-337.69, số khung 3909HY804185, số máy: JA39E0784320, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Ma Văn T (bạn của Lê Thành G). Ngày 21/03/2024, T cho G mượn xe mô tô đi mua vật liệu và không biết việc G sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Do vậy, ngày 16/5/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1-337.69 cho Ma Văn T là đúng theo quy định của pháp luật.
- Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thành G nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành G 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án đối với bị cáo được tính kể từ ngày 21/3/2024.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 214/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Lê Thành G có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xảy ra ngày 21/3/2024" (Kèm theo Kết luận giám định số 214/KL – KTHS, ngày 27/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh C);
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ OPPO, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 865613055997716, điện thoại cũ đã qua sử dụng, viền điện thoại bị xước, bong tróc. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 121 ngày 11/6/2024.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Lê Thành G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan Ma Văn T có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hương Thảo |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1] Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt: Bị cáo Lê Thành G 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án đối với bị cáo được tính kể từ ngày 21/3/2024. [2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 214/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Lê Thành G có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xảy ra ngày 21/3/2024" (Kèm theo Kết luận giám định số 214/KL – KTHS, ngày 27/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh C); - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ OPPO, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 865613055997716, điện thoại cũ đã qua sử dụng, viền điện thoại bị xước, bong tróc. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy; Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 121 ngày 11/6/2024. [3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Lê Thành G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
