|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 112/2024/HS-ST Ngày: 16 – 5 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Công;
Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Thái Vương Triều, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa ngày 07/5/2024 đối với bị cáo:
Bùi Vũ L, sinh năm 1995 tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Áp M, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn) 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn H và bà Lê Thị Y; bị cáo có vợ (chưa đăng ký kết hôn) và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/9/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định khởi tố bị can số 196 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2023 cho đến nay, có mặt.
Người làm chứng: Ông Từ Minh T, bà Nguyễn Thị Kim N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Vũ L và Bùi Chiến T1 quen biết nhau, L biết T1 làm giấy tờ giả và vì thua lỗ trong chơi tiền ảo bitcoin nên khoảng cuối năm 2021 L đưa chứng minh nhân dân nhờ T1 làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV833648 tên Nguyễn Thị Kim D và giấy chứng nhận số CU833652 tên Bùi Vũ L, sau đó L đem giấy tờ này gặp bà Nguyễn Thị Kim N tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai để vay số tiền 1 tỷ đồng (số tiền này bà N giao nhiều lần). Khoảng tháng 7/2022, L tiếp tục nhờ T1 làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV032298, số vào sổ cấp GCN CS13206, ngày 03 tháng 7 năm 2020 do Bùi Vũ L đứng tên, sau khi nhận giấy chứng nhận giả này L thế chấp tiếp để vay của bà Nguyễn Thị Kim N số tiền là 2.500.000.000 đồng (số tiền này bà N cũng giao cho L nhiều lần). Đến tháng 3/2023, do không có tiền trả lãi cho bà N nên bà N đề nghị L chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất tại giấy chứng nhận số CV032298 cho bà N thì bà N sẽ xóa hết nợ cho L.
Ngày 17/4/2023, L và bà N đến văn phòng C tại khu phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N. Trong lúc kiểm tra hồ sơ công chứng, ông Từ Minh T là Công chứng viên nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giả nên đã báo Công an phường L đến mời L và bà N về trụ sở làm việc. Tại Công an phường L, L đã khai nhận hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N.
Kết luận giám định số 185/KL-KTHS(TL) ngày 25/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cần giám định (ký hiệu A1 đến A3) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử”.
Bản Cáo trạng số 323/CT-VKS -TA ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Bùi Vũ L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Đối với người tên Bùi Chiến T1 có hành vi làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bùi Vũ L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển thông tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với hành vi của Bùi Vũ L sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thế chấp và chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị Kim N xảy ra tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 18/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định khởi tố bị can số 196 đối với Bùi Vũ L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CV833648, mang tên Nguyễn Thị Kim D và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CU833652 mang tên Bùi Vũ L. Quá trình điều tra xác định, 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại tỉnh Đồng Nai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ để xử lý.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đủ cơ sở kết luận:
Bùi Vũ L và Bùi Chiến T1 (chưa xác định được cụ thể nhân thân, địa chỉ) quen biết nhau, L biết T1 làm giấy tờ giả và vì đang thua lỗ trong chơi tiền ảo bitcoin nên khoảng cuối năm 2021 L đưa chứng minh nhân dân nhờ T1 làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV833648 mang tên Nguyễn Thị Kim D và giấy chứng nhận số CU833652 tên Bùi Vũ L, sau đó L đem 02 giấy này gặp bà Nguyễn Thị Kim N tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai để vay số tiền 1 tỷ đồng (số tiền này bà N đưa cho D và L nhiều lần). Khoảng tháng 7/2022, L tiếp tục nhờ T1 làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV032298, số vào sổ cấp GCN CS13206, ngày 03 tháng 7 năm 2020 do Bùi Vũ L đứng tên, sau khi nhận giấy chứng nhận giả này L thế chấp tiếp để vay của bà Nguyễn Thị Kim N số tiền là 2.500.000.000 đồng (số tiền này bà N cũng đưa cho L nhiều lần). Do không có tiền trả lãi suất nên bà N yêu cầu L phải ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà N. Ngày 17/4/2023, tại văn phòng C khi thực hiện thủ tục công chứng chuyển nhượng thì bị phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV032298, số vào sổ cấp GCN CS13206, ngày 03 tháng 7 năm 2020 do Bùi Vũ L đứng tên là giả.
Bị cáo L biết đối tượng T1 làm giả giấy tờ nên bị cáo nhờ làm giả và cung cấp thông tin của mình cho T1 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện hành vi trái pháp luật. Hành vi của đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là chưa phù hợp. Mặt khác, việc Bùi Vũ L sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CV032298, số vào sổ cấp GCN CS13206, ngày 03 tháng 7 năm 2020 để thế chấp, vay nhiều lần để chiếm đoạt số tiền của bà Nguyễn Thị Kim N, hành vi này của Bùi Vũ L đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như vậy, theo truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đối với Bùi Vũ L về tội sử dụng tài liệu giả sẽ thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, như nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định hành vi của của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 và chỉ xem xét đối với trường hợp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CV032298, số vào sổ cấp GCN CS13206, ngày 03 tháng 7 năm 2020, nên căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử bị cáo tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Như nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xử bị cáo về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là phù hợp hành vi, ý chí chủ quan của bị cáo và thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm.
[4] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xái, bị cáo nhờ làm giả và cung cấp thông tin cá nhân của mình để làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm để thực hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến sự hoạt động bình thường và uy tín của các Cơ quan Nhà nước, tổ chức, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Đối với đối tượng T1 làm giả tài liệu cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển thông tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục xác minh, làm rõ là phù hợp.
[8] Đối với hành vi của Bùi Vũ L sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thế chấp và chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị Kim N xảy ra tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 18/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định khởi tố bị can số 196 đối với Bùi Vũ L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CV833648, mang tên Nguyễn Thị Kim D và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CU833652 mang tên Bùi Vũ L. Quá trình điều tra xác định 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại tỉnh Đồng Nai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ để xử lý nên không xem xét.
[9] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[10] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ 01 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”, số CV 032298, mang tên “Bùi Vũ L” là giả nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 136, 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Vũ L phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Vũ L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2023.
2. Về án phí:
- Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng tiền) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bui vu L bi xet xu toi su dung tai lieu gia
