Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 112/2024/HS-ST

Ngày 06 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Viết Tuấn
2. Bà Đặng Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Hồng A1; sinh năm 1994; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 292 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng H và bà Tô Thị L; có vợ Nguyễn Thị Ngọc T và 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 08/6/2022, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng (quyết định số 218/2022/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 24/5/2023.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2023 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Chị Huỳnh N, sinh năm 2004; nơi cư trú: 7 T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hồng A1 và đối tượng tên N1 (không rõ lai lịch) là những đối tượng không nghề nghiệp và có mối quan hệ quen biết với nhau. Để có tiền tiêu xài, khoảng 04 giờ 00 phút ngày 26/7/2023 A1 điện thoại cho N1 (thường gọi là T1) rủ đi cướp giật tài sản thì N1 đồng ý. N1 điều khiển xe Exciter, biển số 59X2-817.53 của N1 đến đón A1 tại hẻm (không rõ số) đường Tỉnh Lộ 10, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi gặp nhau, N1 có mang theo 01 bình xịt hơi cay còn A1 mang theo 02 con dao gồm 01 con dao xếp bằng kim loại màu trắng dài khoảng 25cm và 01 con dao loại lớn bằng kim loại màu đen cán bằng gỗ sơn màu đen dài khoảng 35cm đựng trong 01 túi nylon màu trắng. Do sợ bị phát hiện nên A1 dùng 01 miếng decal có in biển số giả 29V2-493.10 mang theo sẵn trước đó dán phủ lên để che biển số của xe 59X2-817.53. Sau đó, A1 cất con dao xếp vào túi quần Jean đang mặc còn con dao lớn và bình xịt hơi cay thì A để trong túi nylon màu trắng giấu trước bụng.

N1 chở A1 chạy lòng vòng các tuyến đường tìm người có tải sản sơ hở để cướp giật. Đến khoảng 04 giờ 35 phút cùng ngày 26/7/2023, khi đi trên cầu C hướng từ Quận E qua Quận H, đoạn vừa xuống dốc cầu phía Phường C, Quận H thì N1 phát hiện chị Huỳnh N đang điều khiến xe mô tô biển số 66NA-035.71 có đeo 01 túi vải (loại túi đeo chéo) màu đen trước bụng nên chỉ cho A1 biết. Sau đó, N1 điều khiển xe chạy từ phía sau vượt lên áp sát phía bên trái xe của chị N, để A1 dùng hai tay giật lấy túi xách trên rồi N1 tăng ga chạy xuống dốc cầu rẽ trái về đường D, Phường B, Quận H ra đường P tẩu thoát. Lúc này, chị N cùng với 02 người bạn đang chạy xe phía sau là Trần Thị Anh T2 và Phan Thị Ngọc T3 (chị T2 và chị T3 đi chung xe) điều khiển xe đuổi theo đến ngã ba đường D - P, Phường B, Quận H thì bị mất dấu.

Lúc này, A1 quay lại nhìn không thấy ai đuổi theo nên mở túi xách ra kiểm tra thì thấy bên trong túi có 01 điện thoại hiệu Iphone 13 màu hồng và số tiền hơn 2.000.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và một ít tiền lẻ không rõ bao nhiêu), 01 Căn cước công dân và 01 thẻ ngân hàng B của chị N nên nói cho N1 nghe. Rồi A1 lấy tiền cất vào túi quần Jean đang mặc, còn điện thoại Iphone 13 màu hồng thì cất vào túi áo khoác đang mặc, còn chiếc túi xách chứa giấy tờ thì A1 vứt bỏ dọc đường (không rõ đoạn nào nên Cơ quan điều tra không thu hồi được). Sau đó, N1 chở A1 đến trước nhà số C T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thì xảy ra va chạm với xe đạp do bà Châu M điều khiển. Vụ va chạm khiến Lê Hồng A1 và bà Châu M bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện C, riêng N1 bỏ đi đâu không rõ.

Nhận được tin báo, Công an P, Quận H đến hiện trường phối hợp với đội Cảnh sát giao thông xử lý vụ va chạm giao thông.

Ngày 28/7/2023, Lê Hồng A1 được bệnh viện C cho xuất viện với chẩn đoán: Tổn thương nông của da đầu (chấn thương đầu); S01.0 - Vết thương hở của da đầu (vết thương đầu). Phương pháp điều trị: Kháng sinh, giảm đau, khâu vết thương.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Lê Hồng A1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, A1 khai đối với số tiền hơn 2.000.000 đồng cướp giật được A1 cất trong túi quần Jean đang mặc thì sau khi bị tai nạn tỉnh dậy, A1 không biết số tiền trên ở đâu, có thể bị rớt mất hoặc bị ai lấy mất khi A1 bị bất tỉnh. Đối với chiếc điện thoại hiệu S bị bể màn hình, cây súng bằng nhựa và số tiền 339.000 đồng, 02 đô la Singapore và 08 USD thì A khai không biết của ai.

Tại Cơ quan điều tra, chị N khai tài sản bị cướp giật là 01 chiếc túi xách bằng vải màu đen (mua đã lâu, giá trị còn lại hiện không đáng kể), bên trong túi có: 01 điện thoại di động biệu Iphone 13 màu hồng 128GB, số IMEI: 351084398602416 gắn sim số 0794357492, do chị N mua vào ngày 07/6/2023 với giá 16.590.000 đồng; số tiền hơn 2.000.000 đồng, 01 Căn cước công dân và 01 thẻ ngân hàng B mang tên Huỳnh Như .

Ngày 11/9/2023, Hội đồng định giá tài sản Quận H có Bản kết luận định giá tài sản số 164/KL-HĐĐGTS, xác định trị giá còn lại của 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng 128GB, số IMEI: 351084398602416 bị cướp giật nêu trên là 13.490.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 15.490.000 đồng.

- Việc tạm giữ, xử lý vật chứng:

  • + 01 thoại di động hiệu Iphone Iphone 13 màu hồng 128GB, số IMEI: 351084398602416 gắn sim số 0794357492. Ngày 25/02/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Huỳnh Như .
  • + 01 bình xịt hơi cay (đã bị hư hỏng); 01 con đao xếp bằng kim loại màu trắng dài khoảng 25cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen cán bằng gỗ sơn màu đen dài khoảng 35cm; 01 điện thoại Nokia màu xanh Model TA-1030, thu giữ của Lê Hồng A1.
  • + 01 xe mô tô biển số 59X2-817. 53 (được dán decal ghi biển số 59V2-493.10 che biển số thật), số máy: 1S9A-069373, số khung: RLCE1S9A0FY069359. Qua xác minh xe do anh Đoàn Thanh H1 đứng tên đăng ký. Qua làm việc anh H1 cho biết mua xe biển số 59X2-817.53 vào ngày 02/7/2015, sau khi sử dụng một thời gian thì đã bán lại cho người quen là anh T4 (không rõ lai lịch) vào năm 2016 mà không có làm hợp đồng mua bán. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe trên, đến nay vẫn chưa có kết quả.
  • + 01 súng bằng nhựa (đã bị hư hỏng); 01 điện thoại Samsung bị bể màn hình; Số tiền 339.000 đồng, 02 đô la Singapore và 08 USD tạm giữ tại hiện trường vụ va va chạm giao thông.
  • + 01 USB do anh Đỗ Quang V giao nộp bên trong chứa hình ảnh vụ “Cướp giật tài sản” do Lê Hồng A1 và đồng phạm thực hiện.

- Trách nhiệm dân sự: Chị Huỳnh N đã nhận lại tài sản là 01 thoại di động hiệu Iphone Iphone 13 màu hồng, các tài sản còn lại chị N không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS-Q8 ngày 14/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Hồng A về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Hồng A1 về tội “Cướp giật tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 bình xịt hơi cay, 01 con dao xếp bằng kim loại màu trắng, 01 con dao bằng kim loại màu đen, 01 súng bằng nhựa (đã bị hư hỏng). Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu xanh, 01 điện thoại Samsung bị bể màn hình, số tiền 339.000 đồng, 02 đô la Singapore và 08 USD. Tiếp tục tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của 01 xe mô tô biển số 59X2-817.53 (được dán decal ghi biển số 59V2-493.10 che biển số thật), số máy: 1S9A-069373, số khung: RLCE1S9A0FY069359. Nếu không tìm được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 04 giờ 35 phút, ngày 26/7/2023, tại khu vực dốc cầu chữ Y hướng từ Quận E qua Quận H, thuộc Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Hồng A1 cùng đối tượng tên N1 có hành vi điều khiển xe mô tô công khai chiếm đoạt của chị Huỳnh N tài sản gồm 01 chiếc túi xách bằng vải màu đen bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone Iphone 13 màu hồng 128GB, trị giá 13.490.000 đồng và số tiền khoảng 2.000.000 đồng, rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 15.490.000 đồng.

Bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội, thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung hình phạt của tội “Cướp giật tài sản”.

[3] Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp giật tài sản” như sau:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Hồng A1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

[6] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi phần lớn và trả lại cho bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Bị cáo có 01 tiền sự vào năm 2022, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.

[8] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • + 01 USB là dữ liệu điện tử trích xuất camera ghi hình chị N truy đuổi theo Ân khi bị cướp giật tài sản, xét đây là chứng cứ có giá trị chứng minh nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
  • + 01 thoại di động hiệu Iphone Iphone 13 màu hồng 128GB, số IMEI: 351084398602416 gắn sim số 0794357492. Ngày 25/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Huỳnh N nên Hội đồng xét xử không xét.
  • + 01 bình xịt hơi cay (đã bị hư hỏng); 01 con đao xếp bằng kim loại màu trắng dài khoảng 25cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen cán bằng gỗ sơn màu đen dài khoảng 35cm; thu giữ của Lê Hồng A1. Xét các đồ vật này là do bị cáo mang theo khi thực hiện hành vi phạm tội, do không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại Nokia màu xanh Model TA-1030, tạm giữ của Lê Hồng A1 có dùng liên lạc với đối tượng tên N1 đi cướp giật tài sản nên tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + 01 súng bằng nhựa (đã bị hư hỏng); 01 điện thoại Samsung bị bể màn hình; Số tiền 339.000 đồng, 02 đô Singapore và 08 USD, thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Bị cáo không thừa nhận của bị cáo, và cũng không phải của bà Châu M. Nên tuyên tịch thu tiêu hủy 01 súng bằng nhựa (đã bị hư hỏng), tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung bị bể màn hình; Số tiền 339.000 đồng, 02 đô la Singapore và 08 USD.
  • + 01 xe mô tô biển số 59X2-817.53 (được dán decal ghi biển số 59V2-493.10 che biển số thật), số máy: 1S9A-069373, số khung: RLCE1S9A0FY069359 thu giữ của bị cáo. Qua xác minh xe do anh Đoàn Thanh H1 đứng tên đăng ký. Qua làm việc anh H1 cho biết mua xe biển số 59X2-817.53 vào ngày 02/7/2015, sau khi sử dụng một thời gian thì đã bán lại cho người quen là anh T4 (không rõ lai lịch) vào năm 2016 mà không có làm hợp đồng mua bán. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe trên, đến nay vẫn chưa có kết quả.

Do chưa xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp nên cần tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp xe trên trong thời hạn 01 năm. Hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 59X2-817.53.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại phần lớn tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Đối với đối tượng tên N1 có hành vi “Cướp giật tài sản”, do không rõ lai lịch, địa chỉ chưa đủ căn cứ khởi tố bị can nên ngày 23/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, để tiếp tục làm rõ, khi nào phát hiện xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Đối với vụ việc tai nạn giao thông giữa A1, đối tượng tên N1 và bà Châu M tại trước nhà số C T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua làm rõ xác định phần lỗi thuộc về bà Châu M điều khiển xe đạp chuyển hướng không báo hiệu trước gây tai nạn giao thông. Mặt khác, do thương tích nhẹ và giữa Lê Hồng A và bà Châu M đã tự thỏa thuận thống nhất với nhau về việc chi trả tiền thuốc men và tiền sửa chữa xe hư hỏng nên Đội Cảnh sát giao thông Công an Q đã lập biên bản giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về hành chính.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Hồng A1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/7/2023.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 bình xịt hơi cay (đã bị hư hỏng); 01 con dao xếp bằng kim loại màu trắng dài khoảng 25cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen cán bằng gỗ sơn màu đen dài khoảng 35cm.
  • + 01 súng bằng nhựa (đã bị hư hỏng)

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • + 01 điện thoại Nokia màu xanh Model TA-1030
  • + 01 điện thoại Samsung bị bể màn hình;
  • + Số tiền 339.000 đồng, 02 đô la Singapore và 08 USD.

Tiếp tục tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của 01 xe mô tô biển số 59X2-817.53, số máy: 1S9A-069373, số khung: RLCE1S9A0FY069359. Hết thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/6/2024).

Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Hồng A1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS ND Quận 8;
  • - VKS ND TP. HCM;
  • - CQ ĐT CA Quận 8;
  • - CQ THA HS CA Quận 8;
  • - Nhà tạm giữ CA Quận 8;
  • - Chi cục THA DS Quận 8;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - TA ND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - PC53;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phúc

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 112/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 112 06-6 Lê Hồng A1 171
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger