Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC,

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

Ông Nguyễn Thanh An

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 381/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1996;
  • Địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ B ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • Hiện cư trú tại: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn: Anh Huỳnh Công T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ B ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn – chị Trần Thị T trình bày: Sau thời gian tìm hiểu, quen biết, chị và anh Huỳnh Công T1 kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08-6-2016. Vợ chồng có một người con chung tên Huỳnh Công T2, sinh ngày 24-10-2016. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Cách đây khoảng hơn 01 năm, chị phát hiện anh T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Từ đó đến nay, vợ chồng không sống chung, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1.

Về con chung: Từ khi con 4 tháng tuổi đến nay, con sống chung với ông bà nội của cháu, do cả cha và mẹ đều đi làm công nhân. Khi nộp đơn khởi kiện, chị có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con. Nhưng nay chị thấy rằng, từ nhỏ con đã sống chung với ông bà, trong khi đó chị đang đi làm công nhân, đi sớm về tối, chỉ có một mình nên điều kiện chăm sóc con không tốt. Do đó, chị thay đổi yêu cầu, chị đồng ý giao con cho anh T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình chung sống, vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng anh Huỳnh Công T1 vắng mặt. Đồng thời nguyên đơn - chị T có đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Công T1, hiện anh T1 có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Huỳnh Công T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; chị Trần Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Huỳnh Công T1 kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08-6-2016, nên xác định hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T cho rằng quá trình chung sống giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1. Anh Huỳnh Công T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T1 không đến Tòa án theo Giấy triệu tập, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thấy rằng, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh T1 không thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Từ đó, thấy rằng cả chị T và anh T1 đều không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ vợ chồng. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T1 không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc ly hôn với anh T1.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Huỳnh Công T1 có 01 người con chung là Huỳnh Công T2, sinh ngày 24-10-2016. Khi ly hôn, chị T đồng ý giao con chung cho anh T1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, cháu T2 có ý kiến muốn sống chung với cha và ông bà nội. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T và anh T1 không có yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị T xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, anh Huỳnh Công T1 không có ý kiến tranh chấp trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.

[5] Về nợ chung: Chị Trần Thị T xác định quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung, anh Huỳnh Công T1 không thể hiện ý kiến về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Trần Thị T là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nên chị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; các điều 81, 82, 83, 84, 85, 86 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về việc yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Công T1.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Huỳnh Công T1 không còn là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Công T2, sinh ngày 24-10-2016 cho anh Huỳnh Công T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013042 ngày 10-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.

Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Cần Giuộc;
  • - THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Ủy ban nhân dân xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nguyễn Xuân An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger