TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 25-4-2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Chí Nguyện.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Cường, ông Nguyễn Ngọc Thiện
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
- Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25-4-2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 215/2022/TLST-HNGĐ ngày 19-10-2022, về việc: “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 167/2023/QĐXX-ST ngày 21-8-2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2023/QĐ-HPT ngày 19-9-2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2023/QĐ-HPT ngày 19-10-2023 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 74/TB-TA ngày 25-3-2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Phương A, sinh năm 1988. Hộ chiếu số N2212960 do T tại Ê-ka-te-rin-bua, Liên Bang N cấp ngày 04-9-2020. Hộ khẩu thường trú: T, Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi thường trú: Tổ dân phố số G, P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
- Đại diện ủy quyền nhận văn bản của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1977; CCCD số [...] do Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 22-8-2017; HKTT: Số A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
- - Bị đơn: Anh Hoàng Cơ M, sinh năm 1991. Hộ chiếu số C8491047 do Cục Q cấp ngày 18-11-2019. Địa chỉ nơi ĐKNKTT: Thôn A, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Hiện ở: Số nhà G, Đ, đường Đ, thành phố U, Liên Bang N.
- Chị Phương A1, anh M vắng mặt; chị K có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo đơn khởi kiện ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Phương A trình bày:
Anh Hoàng Cơ M và chị Phạm Thị Phương A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02-02-2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống, làm việc, đi lại giữa hai nước Việt Nam và Liên bang N. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống, lối sống của vợ chồng không hòa hợp. Anh M thường xuyên bạo hành, đánh đập, đe dọa giết chị Phương A1 nên chị và hai con phải đi nơi khác sinh sống. Vợ chồng đã ly thân từ ngày 27-11-2017 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Phương A1 xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Cơ M.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Minh P, sinh ngày 10-8-2016 và cháu Phạm Minh V, sinh ngày 05-5-2018. Hiện cả hai con chung đều đang chung sống với chị Phương A1. Vợ chồng ly hôn, chị Phương A1 có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung và không yêu cầu anh Hoàng Cơ M đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị Phương A xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Bị đơn là anh Hoàng Cơ M vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Công văn số 6241/QLXNC-P3 ngày 28-3-2024 tại Cục Q - Bộ C thể hiện: Anh Hoàng Cơ M, sinh ngày 15-3-1991, khai địa chỉ ở thôn A, B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, từ ngày 01-01-2016 đến ngày 27-3-2024 đã xuất nhập cảnh 06 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 31-12-2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 04-3-2024 đối với bà Phạm Thị D – là mẹ đẻ của anh Hoàng Cơ M thể hiện: Bà D xác nhận việc anh Hoàng Cơ M và chị Phạm Thị Phương A kết hôn và có 02 con chung là đúng. Hiện nay, anh Hoàng Cơ M đang ở L Nga, nhưng bà D không biết địa chỉ và số điện thoại của anh M. Bà D vẫn thường xuyên liên hệ với anh M qua zalo và anh M có biết về việc chị Phương A1 xin ly hôn. Bà D không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để gửi cho anh M vì bà D không biết thủ tục gửi.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Nguyên đơn là chị Phạm Thị Phương A vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hợp lệ.
- - Bị đơn là anh Hoàng Cơ M ở nước ngoài, vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
- - Đại diện ủy quyền nhận văn bản của chị Phương A1 là chị Nguyễn Thị Thúy K có mặt, đồng ý nhận toàn bộ sự ủy quyền của chị Phương A1 và cam kết giao gửi toàn bộ văn bản của Tòa án cho chị Phương A1.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:
Về tố tụng: Bị đơn là anh Hoàng Cơ M là người có quốc tịch Việt Nam, hiện ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn đã đảm bảo thủ tục theo quy định.
Về nội dung: Anh Hoàng Cơ M và chị Phạm Thị Phương A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02-02-2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh T nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đã ly thân nhiều năm nên việc chị Phương A1 khởi kiện xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Phương A và giải quyết cho chị Phương A1 được ly hôn anh Hoàng Cơ M.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Minh P, sinh ngày 10-8-2016 và cháu Phạm Minh V, sinh ngày 05-5-2018. Hiện cả hai con chung đều đang chung sống với chị Phương A1. Vợ chồng ly hôn, chị Phương A1 có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung và không yêu cầu anh Hoàng Cơ M đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của chị Phương A1 là phù hợp thực tế nên đề nghị chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng.
Anh Hoàng Cơ M là công dân Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Anh M đã xuất cảnh gần nhất ngày 31-12-2019 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành ủy thác tống đạt hồ sơ ủy thác tư pháp các văn bản cho anh Hoàng Cơ M nhưng đến 21-01-2024, Tòa án nhận được văn bản trả lời của Đ tại Liên bang N đề ngày 17-8-2023 xác nhận việc tống đạt đối với anh Hoàng Cơ M không thành do địa chỉ của đương sự không đúng.
Tòa án đã làm việc với người thân của anh Hoàng Cơ M là bà Phạm Thị D (mẹ đẻ của anh M) để xác minh làm rõ và tống đạt văn bản tố tụng cho anh M. Bà D xác nhận việc anh M và chị Phương A1 kết hôn và có 02 con chung như chị Phương A1 trình bày là đúng. Hiện nay, anh Hoàng Cơ M đang ở L Nga, nhưng bà D không biết địa chỉ và số điện thoại của anh M. Bà D vẫn thường xuyên liên hệ với anh M qua zalo và anh M có biết về việc chị Phương A1 xin ly hôn. Bà D không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để gửi cho anh M vì bà D không biết thủ tục gửi.
Chị Phương A1 có Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hợp lệ.
Căn cứ quy định tại các Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26-11-2018 của Tòa án nhân dân tối cao, thì Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung.
[2.1]. Về tình cảm: Anh Hoàng Cơ M và chị Phạm Thị Phương A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02-02-2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống, đi lại giữa Việt Nam và Liên bang N. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị Phương A1 trình bày vợ chồng đã ly thân từ ngày 27-11-2017 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa, đời sống chung không kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa anh Hoàng Cơ M và chị Phạm Thị Phương A thực tế đã không còn tồn tại từ năm 2017, vợ chồng đã sống ly thân và không còn liên hệ, đời sống chung vợ chồng thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Phương A với anh Hoàng Cơ M là có căn cứ được chấp nhận.
Căn cứ quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Phương A và giải quyết cho chị Phạm Thị Phương A được ly hôn anh Hoàng Cơ M.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Minh P, sinh ngày 10-8-2016 và cháu Phạm Minh V, sinh ngày 05-5-2018. Hiện cả hai con chung đều đang chung sống với chị Phương A1.
Khi ly hôn, chị Phương A1 có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung và không yêu cầu anh Hoàng Cơ M đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện các con đang ở ổn định với chị Phương A1, các con cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Căn cứ quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy giao cả hai con chung cho chị Phương A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Phạm Thị Phương A không yêu cầu anh Hoàng Cơ M đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án xét tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M cho đến khi chị Phương A1 có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
[2.3]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị Phương A xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét. Giành quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung hoặc nghĩa vụ chung về tài sản sau ly hôn cho các đương sự để được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác (nếu có).
[3]. Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì chị Phạm Thị Phương A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Phương A xin ly hôn anh Hoàng Cơ M. Chị Phạm Thị Phương A và anh Hoàng Cơ M chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Chị Phạm Thị Phương A và anh Hoàng Cơ M có 02 con chung là cháu Phạm Minh P, sinh ngày 10-8-2016 và cháu Phạm Minh V, sinh ngày 05-5-2018. Giao chị Phương A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung và tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Cơ M cho đến khi chị Phạm Thị Phương A có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
- Anh Hoàng Cơ M có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị Phương A xác định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Giành quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung hoặc nghĩa vụ chung về tài sản sau ly hôn cho các đương sự để được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác (nếu có).
- Về án phí: Chị Phạm Thị Phương A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0001080 ngày 14-10-2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Ghi nhận việc chị Phạm Thị Phương A đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Phương A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Hoàng Cơ M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Chí Nguyện |
Bản án số 112/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 112/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị PTPA và anh HCM
