Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/DS-ST

Ngày 30-7-2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng

đất và đòi tài sản là QSDĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Hồng Phượng;
  2. Ông Trần Hữu Thiện.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh - Là Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 695/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị M, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn, ông Trần Văn L trình bày: Khoảng sau giải phóng, gia đình ông mua của bà T (mẹ vợ ông G) phần đất tại ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Do lúc đó đất còn là đất rừng nên sau khi mua, gia đình ông phải khai phá mới sử dụng được. Khi đó phần đất này chưa ai kê khai, đăng ký. Các bên mua bán cũng chỉ xác định ranh giới phần đất, mà không đo đạc cũng như lập văn bản. Đến năm 1996, ông kê khai, đăng ký và được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00803 QSDĐ/450409 ngày 30/11/1996, tuy nhiên do thiếu hiểu biết nên ông kê khai thiếu thửa đất số 2818, tờ bản đồ số 04 (bản đồ 299), theo bản đồ đo lưới là thửa 341, tờ bản đồ số 25, có diện tích qua đo đạc thực tế là 1130,7 m². Đến năm 2018, ông cắt đất chia cho các con thì phát hiện thửa đất số 341 nêu trên do gia đình ông sử dụng nhưng đã được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn L1. Ông đã liên hệ với ông L1 để thương lượng nhưng không thành nên khởi kiện. Ông xác định thửa đất tranh chấp đã được gia đình ông sử dụng công khai, liên tục từ khoảng sau giải phóng cho đến nay, không ai tranh chấp. Về ranh giới, mốc giới giữa đất ông và đất của ông L1 rất rõ ràng, ngoài bờ ranh đất còn có các trụ xi măng. Bờ ranh đất thì đã có từ lâu, còn các trụ xi măng ông trồng trên bờ ranh này tính đến nay khoảng 10 năm, đất của ông cũng cao hơn đất của vợ chồng anh L1 một bậc. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1130,7 m², thửa 341, tờ bản đồ số 25, tại ấp L, xã L, huyện D là của ông. Ngoài ra, ông không có yêu cầu nào khác.

* Bị đơn, ông Nguyễn Văn L1 trình bày: Gia đình ông từ trước đến nay đều ở tại ấp L, xã L. Còn ông L khoảng năm 1990 mới về L sinh sống. Trước đó, nguyên khu đất ở khu vực nhà ông L và gia đình ông đều là của ông bà nội ông là Đào Văn G1 (chết khoảng năm 1966) và bà Nguyễn Thị B (chết trước hoặc sau ông G1 khoảng 1, 2 năm). Sau đó, ông bà nội ông chia đất cho các con. Phần đất gia đình ông L đang sử dụng được chia cho bác của ông là Đào Văn Đ, sau đó bác ông bán lại cho người khác. Gia đình ông L sau đó mua lại của chủ đất sau này là bà T (mẹ vợ ông G). Tuy nhiên, trước đó đất chưa có ai kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi mua bán các bên chỉ xác định ranh giới đất và thỏa thuận miệng với nhau. Sau này gia đình ông L mới kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng ông sống ở địa phương nên biết rõ quá trình sử dụng đất của gia đình ông L. Phần đất của ông G bán cho vợ chồng ông có nguồn gốc cũng là của ông G1, bà B tặng cho ông là Đào Văn Đ. Sau đó ông Đ bán lại cho bà Nguyễn Thị T1. Bà T1 sau đó cho vợ chồng ông G. Đến năm 2003, vợ chồng ông G bán lại cho vợ chồng ông. Khi ông mua phần đất này, hai bên không đo đạc mà mua theo diện tích đất được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông cũng đã được Ủy ban nhân dân Huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01790 QSDD/398/HĐ-CN/2003 ngày 03/7/2003. Khi ông đến nhận đất thì thấy giữa thửa đất số 341 và thửa 342 có bờ ranh đất, còn các trụ xi măng trên bờ ranh do ông L trồng khoảng 10 năm nay. Thửa đất 342 lúc đó bỏ hoang, còn thửa đất số 341, tờ bản đồ số 25, diện tích thực tế 1130,7 m² đang do ông L sử dụng. Thửa đất 341 cũng cao hơn thửa đất 342. Sau khi nhận đất, vợ chồng ông trồng lúa được mấy năm, nhưng do đất ngập nước trồng lúa bị thất thu nên đến khoảng năm 2014, 2015 vợ chồng ông thuê máy móc đất đắp lên cao, phần đất cao thì trông cao su, còn phần bị móc thì để nuôi cá như hiện trạng đất bây giờ. Từ khi vợ chồng ông nhận đất sử dụng cho đến nay thì ranh giới giữa đất của gia đình ông L và đất của vợ chồng ông không có gì thay đổi so với hiện nay. Ông cũng xác định khi mua, ông không đo đạc diện tích đất thực tế. Khi nhận đất sử dụng thấy ranh giới thửa đất rõ ràng nên không biết phần đất ông đang sử dụng bị thiếu diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Đến năm 2018, ông L đo đất để tách cho con thì mới biết thửa đất ông L đang sử dụng nằm trong giấy đất được cấp cho ông nên ông L có yêu cầu ông làm thủ tục điều chỉnh lại giấy chứng nhận, nhưng ông không đồng ý, vì đất này ông mua của vợ chồng ông G là mua toàn bộ diện tích trong giấy chứng nhận. Nay với yêu cầu khởi kiện của ông L, ông không đồng ý. Ông yêu cầu ông L phải trả lại quyền sử dụng thửa đất số 341, tờ bản đồ số 25, diện tích thực tế 1130,7 m², tại ấp L, xã L cho vợ chồng ông.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Lê Thị M trình bày: Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Nguyễn Văn L1. Khi vợ chồng bà mua đất của vợ chồng ông G, ranh giới giữa đất bà mua và đất ông L chỉ có bờ ranh đất, đến khoảng 10 năm trở lại đây ông L mới trồng thêm mấy trụ xi măng trên bờ ranh đất. Trước đó phần đất bà mua, vợ chồng ông G không sử dụng mà bỏ hoang. Sau khi mua vợ chồng bà mua mới sử dụng để trồng lúa nhưng do đất thường xuyên bị ngập nước, trồng lúa bị thất thu nên vợ chồng bà mới móc đất lên để trồng cao su như hiện nay. Nay với yêu cầu khởi kiện của ông L, bà không đồng ý vì đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L1 là của vợ chồng bà. Bà yêu cầu ông L phải trả lại quyền sử dụng thửa đất số 341, tờ bản đồ số 25, diện tích thực tế 1130,7 m², tại ấp L, xã L cho vợ chồng bà.

Ông Đỗ Văn G2 và bà Phạm Thị K thống nhất khai theo biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2024: Nguồn gốc phần đất vợ chồng ông, bà bán cho ông L1, bà M tại ấp L, xã L là của cha mẹ bà K là Phạm Văn Q, Nguyễn Thị T1 tặng cho vợ chồng ông G2. Do thời gian đã lâu nên ông, bà không nhớ thời gian tặng cho, nhưng thời điểm đó ông Q, bà T1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 1996, ông G2 kê khai và đã được Ủy ban nhân dân Huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00516 QSDĐ/450409 ngày 30/6/1996. Thời điểm kê khai, đăng ký, phần đất này không đo đạc, diện tích ghi trong đơn kê khai và giấy chứng nhận là địa chính cắt và tính tỷ lệ trên bản đồ địa chính (bản đồ không ảnh 299). Ông, bà sử dụng đất để trồng lúa một thời gian nhưng đất bị ngập nước không sử dụng được nên bỏ hoang đến năm 2003 thì chuyển nhượng cho vợ chồng ông L1. Khi bán, hai bên không đo mà chuyển nhượng diện tích được ghi trong giấy chứng nhận. Thời điểm chuyển nhượng ranh giới, mốc giới giữa đất của ông, bà và đất ông L là cái bờ đất, đất ông L là đất gò cao, còn đất của ông, bà là đất ngập nước. Ông, bà đã giao đất cho vợ chồng ông L1 sử dụng từ năm 2003. Ngoài các thông tin trên, ông, bà không cung cấp thông tin gì khác.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1130,7 m² tại thửa 2818, tờ bản đồ số 04 (bản đồ 299) và là thửa 341, tờ bản đồ số 25 (theo bản đồ 2010), tại ấp L, xã L, Huyện D là của nguyên đơn. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý và có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án buộc nguyên đơn trả lại quyền sử dụng thửa đất nêu trên lại cho ông L1, bà M.

Đại diện VKSND Huyện Dương Minh Châu phát biểu: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm giải quyết vụ án thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS 2015.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 179, 184 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH, đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L đối với ông L1; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông L1 và bà M đối với ông L về tranh chấp quyền sử dụng đất. Công nhận cho ông Trần Văn L được quyền sử dụng đất diện tích 1130,7 m², thửa 341, tờ bản đồ số 25, tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời buộc đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Nguồn gốc phần đất diện tích 1130,7 m² tại thửa 2818, tờ bản đồ số 04 (bản đồ không ảnh 299), theo bản đồ đo lưới 2010 là thửa 341, tờ bản đồ số 25, tại ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh là của ông Phạm Văn Q, bà Nguyễn Thị T1. Khoảng năm 1990, bà T1, ông Q cắt bán cho gia đình ông L một phần đất, phần đất liền kề thì tặng cho vợ chồng bà K, ông G2. Năm 1996, cả ông L và ông G2 cùng kê khai, đăng ký và đã được Ủy ban nhân dân Huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00803 QSDĐ/450409 ngày 30/11/1996 mang tên ông Trần Văn L và số 00516 QSDĐ/450409 ngày 30/6/1996 mang tên Đỗ Văn G2. Trong đó, thửa đất tranh chấp 2818 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông G2. Năm 2003, ông G2, bà K chuyển nhượng toàn bộ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho ông L1, bà M. Ông L1 đăng ký biến động và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01790 QSDĐ/398/HĐ-CN/2003 ngày 03/7/2003.

[2] Về quá trình sử dụng đất: Các đương sự đều thừa nhận, quá trình sử dụng, ranh giới giữa hai thửa đất liền kề của gia đình ông L và gia đình ông L1 (trước đó là của vợ chồng ông G2) từ trước đến nay không thay đổi. Đất của ông L cao hơn một bậc (đất gò), đất của ông L1 là ruộng sâu và hai thửa đất này được ngăn cách bởi đường bờ ranh đất, khoảng 10 năm trở lại đây ông L còn dựng các cột mốc là các trụ xi măng trên đường bờ ranh này. Đất tranh chấp thuộc đất gò, nằm phía trên bờ ranh và thuộc phạm vi đất do ông L quản lý, sử dụng. Như vậy, gia đình ông L đã sử dụng phần đất diện tích 1130,7 m², thửa đất 341 (thửa cũ 2818) công khai, liên tục từ khoảng năm 1990 cho đến nay không ai tranh chấp.

[3] Xét việc kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấy rằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00516 QSDĐ/450409 ngày 30/6/1996 của ông Trần Văn G3 và giấy CNQSDĐ số 01790 QSDĐ/398/HĐ-CN/2003 ngày 03/7/2003 của ông Nguyễn Văn L1 đều được cấp theo bản đồ không ảnh 299. Việc kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện dựa trên việc cắt, đo và tính tỷ lệ trên bản đồ địa chính, mà không đo đạc thực địa. Đất tranh chấp do ông L quản lý, sử dụng, nhưng ông L1 (trước đó là ông G3) lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, có căn cứ xác định, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông G3 và ông L1 nêu trên là không đúng về ranh giới, mốc giới và hiện trạng sử dụng đất của các bên.

[4] Ông L1, bà M phản tố yêu cầu ông L trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1130,7 m² vì cho rằng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1. Tuy nhiên, như đã nhận định ở trên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1 là không đúng hiện trạng sử dụng đất. Ông L1, bà M cũng không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận. Yêu cầu khởi kiện của ông L phù hợp với những nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn L1, bà Lê Thị M phải chịu 29.500.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do ông L1 đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên căn cứ khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc ông L1, bà M phải hoàn trả cho ông L số tiền 29.500.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

[6] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L được Tòa án chấp nhận và yêu cầu phản tố của ông L1, bà M không được chấp nhận nên ông L1, bà M phải liên đới chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 26 và khoản 2 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu là phù hợp với các nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 176, Điều 177, Điều 223 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166 Luật Đất đai 2013; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn L1.

    Ông Trần Văn L được quyền sử dụng phần đất có diện tích 1130,7 m² tại thửa 2818, tờ bản đồ số 04 (bản đồ không ảnh 299), theo bản đồ đo lưới 2010 là thửa 341, tờ bản đồ số 25, tại ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đất có tứ cận, hướng đông giáp thửa 342 (đất ông Nguyễn Văn L1, dài 41,02m; hướng tây giáp thửa 340 (đất anh Trần Quốc D) dài 42,41m; hướng nam giáp thửa 352 (đất bà Nguyễn Thị Đ1), dài 27,82m; hướng bắc giáp thửa 319 (đất ông Lê Văn R), dài 26,48m (có sơ đồ kèm theo).

    Ông Trần Văn L được quyền kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn L1, bà Lê Thị M về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn L2.

    Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01790 QSDĐ/398/HĐ-CN/2003 ngày 03/7/2003 đã cấp cho ông Nguyễn Văn L1 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L1 và ông Trần Văn L cho phù hợp với quyết định của bản án này.

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

    Buộc ông Nguyễn Văn L1 và bà Lê Thị M hoàn trả lại cho ông Trần Văn L chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 29.500.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Văn L1 và bà Lê Thị M phải liên đới chịu 600.000 đồng (bằng chữ: Sáu trăm nghìn đồng), khấu trừ 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông L1, bà M đã nộp theo biên lai thu số 0007842 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Ông L1, bà M còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).

    Ông Trần Văn L được nhận lại 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007185 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Huyện Dương Minh Châu;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Thiện

Nguyễn Hồng Phượng

Phan Thị Phương

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi tài sản là qsdđ

  • Số bản án: 112/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi tài sản là QSDĐ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất do cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng hiện trạng sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger