TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 112/2024/DS-ST
Ngày: 16 - 4 - 2024.
V/v “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà: Võ Chi Lan.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thu Hảo.
- Ông Lê Thanh Nghị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hồ Hải Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Bảo Vy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2023/TLST- DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lê Thị Đ, sinh năm 1958. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện G, Tiền Giang.
Bị đơn: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1957.Có mặt.
Địa chỉ: Ấp D, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đỗ Minh K, sinh năm 1982. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp D, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 7 năm 2023 và tại phiên tòa bà Lê Thị Đ là nguyên đơn trình bày:
Ngày 08 tháng 5 năm 1997, bà cho bà H vay số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất 03%/ tháng, có làm giấy viết tay do bà H ký. Quá trình vay tiền, bà H trả được cho bà 37.000.000 đồng vốn gốc, tiền lãi thì trả được một ít khoảng vài tháng nhưng do thời gian quá lâu bà không nhớ là được bao nhiêu tiền.
Thời gian dài, bà có đến gặp bà H để đòi tiền nhưng bà H không trả. Không có việc bà H cho rằng thiếu 33.000.000 đồng là tiền lãi và đã trả được 27.500.000 đồng nên còn nợ 5.500.000 đồng. Bà không có giữ sổ trả tiền như bà H trình bày.
Nay yêu cầu bà H trả cho bà số tiền này. Trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bà Nguyễn Thị Thu H là bị đơn trình bày: Khoảng những năm 1994, 1995, bà vay của bà Đ số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất 6%/ tháng, trả lãi nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể số tiền, trả xong vốn gốc và chỉ còn nợ 33.000.000 đồng là tiền lãi. Việc trả tiền cho bà Đ hai bên có làm sổ ghi cụ thể số tiền, ngày tháng năm nhưng thời gian quá lâu nên bị mất sổ và còn một số nữa do bà Đ giữ.
Năm 2003 đã trả được 27.500.000 đồng nên chỉ còn nợ 5.500.000 đồng và có xin bà Đ không trả nhưng bà Đ không đồng ý. Nay tại Tòa nếu bà Đ không cho số tiền 5.500.000 đồng thì bà đồng ý trả cho bà Đ.
* Anh Đỗ Minh K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày tại Tòa:
Trước đây, mẹ anh là bà H có vay tiền của bà Đ 70.000.000 đồng, đã trả xong; còn tiền lãi 33.000.000 đồng trả được 27.500.000 đồng bằng cách chơi hụi do bà Đ làm thảo mỗi tháng mẹ anh nhờ anh đem tiền trả cho bà Đ 1.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 4 Điều 27 luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; các điều 21, 22, 26, 35, 46, 48, 49, 51, 63, 68, 70, 71, 72, 73, 92, 96, 97, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án và đương sự tuân theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ là buộc bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Đ số tiền 33.000.000 đồng như nêu trên khi án có hiệu lực pháp luật với căn cứ là bà Đ không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bà H còn nợ bà Đ 33.000.000 đồng; về án phí đương sự chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Bà Đ khởi kiện yêu cầu bà H trả tiền vay là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đ nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét biên nhận nợ ghi ngày 8/5/97 âL Nguyễn Thị Thu H có nợ vay số tiền cộng 33 triệu, ký tên H. Bà H không thừa nhận nội dung và chữ ký là của bà. Bà Đ không chứng minh được biên nhận này do bà H viết và ký tên. Cả hai đương sự đều không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký.
Tại phiên tòa, bà H và bà Đ thống nhất là bà H có vay của bà Đ số tiền 70.000.000 đồng. Bà Đ cho rằng bà H trả được 37.000.000 đồng tiền vốn gốc; bà H không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh đã trả cho bà Đ 70.000.000 đồng. Lời thừa nhận của bà Đ là chứng cứ chứng minh bà H đã trả được nợ 37.000.000 đồng. Như vậy căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự xác định H hiện nợ bà Đ số tiền 33.000.000 đồng.
Từ căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát không được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Bà Hà chịu theo quy định do bà không có đơn, không có yêu cầu miễn án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các điều 463, 465, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ:
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Đ số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kề từ ngày bà Lê Thị Đ có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà Nguyễn Thị Thu H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Nguyễn Thị Thu H chịu 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Án tuyên và kết thúc cùng ngày.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ CHI LAN |
Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 112/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
