Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 112/2023/HS-ST

Ngày: 12-12-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đức Hiếu

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLHS-ST ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Thái Quốc Đ, sinh ngày 14/9/1992 tại Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở trước khi bị bắt: Thuê trọ tại số G đường H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thái Quốc C và bà Nguyễn Thị B (cả 2 đều còn sống); Có vợ là: Lê Thị Thúy S, có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HS-ST ngày 20/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2022, chấp hành án phí ngày 04/02/2021.

Ngày 30/8/2024 bị Công an quận C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Hành vi được phát hiện sau khi bị cáo bị bắt)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/7/2024. Có mặt tại phiên tòa.

2. Thái Thanh T, sinh ngày 17/8/1989 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký thường trú: số nhà B đường T, tổ A, phường T, quận T, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thái Bằng Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh M (còn sống); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2007/HSST ngày 24/7/2007 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại Quyết định số 10023/QĐ-UBND ngày 03/12/2012 của UBND thành phố Đ áp dụng biện pháp cai nghiện tập trung thời hạn 03 tháng.
  • + Tại Quyết định số 4644/QĐ-UBND ngày 04/7/2013 của UBND thành phố Đ áp dụng biện pháp cai nghiện tập trung thời hạn 06 tháng.
  • + Tại Quyết định số 11/2014/QĐ-TA ngày 22/12/2014 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
  • + Tại Quyết định số 74/2016/QĐ-TA ngày 16/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.
  • + Tại Quyết định số 106/2017/QĐ-TA ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
  • + Tại Quyết định số 101/2019/QĐ-TA ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
  • + Ngày 30/8/2024 bị Công an quận C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Hành vi được phát hiện sau khi bị cáo bị bắt)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/7/2024. Có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Văn Q1, sinh ngày 02/10/2003 tại tỉnh Kon Tum; Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã I, TP K, tỉnh Kon Tum; C1 ở trước khi bị bắt: Thuê trọ tại số A đường H, phường K, quận C, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Chí D và bà Nguyễn Thị Thu S1 (cả 2 đều còn sống); Tiền án, tiền sự: chưa.

Nhân thân: Ngày 30/8/2024 bị Công an quận C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Hành vi được phát hiện sau khi bị cáo bị bắt).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/7/2024. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 02/3/2005; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, thành phố T, Quảng Nam; Địa chỉ liên hệ: 9 đường M, quận H, TP Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/7/2024, trong lúc đang ở nhà tại K đường T, phường T, quận T thì Thái Thanh T liên hệ qua tài khoản zalo của Thái Quốc Đ hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá để sử dụng. Tuy nhiên, do không có tiền nên T thoả thuận với Đ cầm cho T 01 máy tính xách tay hiệu Dell với giá 2.000.000 đồng, sau khi trừ đi tiền mua ma túy thì Đ đưa lại T số tiền 1.700.000đồng và Đ đồng ý.

Trao đổi với Đế xong, T điện thoại cho Ngô Văn Q1 (là nhân viên giao hàng), thuê Q1 đem máy tính đến giao cho Đ tại phòng trọ số 404 tại dãy nhà trọ số G đường H, phường H, quận L và nhận lại số tiền 1.700.000 đồng kèm theo 01 gói ma tuý được ngụy trang bên trong 01 gói thuốc trực tràng hiệu Stiprol từ Đế để đem về giao lại cho T, với phí giao hàng là 40.000đồng. Q1 đồng ý nên điều khiển xe mô tô hiệu wave màu trắng biển kiểm soát 82B2 - 084.75 đến nhà T nhận máy tính đem giao cho Đ. Trên đường đi, T nhắn tin hối thúc Q1 đi nhanh hơn và hứa sẽ trả cho Q1 phí giao hàng là 100.000đồng.

Khi Q1 đến nơi, do không có đủ tiền nên Đ đưa trước 1.000.000 đồng và gói thuốc trực tràng hiệu Stiprol bên trong có giấu gói ma tuý cho Q1, nhận hàng xong Q1 đem tiền và gói thuốc về cho T. Trên đường đi, Q1 mở gói thuốc kiểm tra thì thấy bên trong có gói ma tuý, nên Q1 lấy gói ma túy ra giấu vào cốp xe rồi điều khiển xe đến chỗ T giao hàng như đã thoả thuận. Tuy nhiên, khi đi đến khu vực ngã ba đường T - Đ, thuộc phường H, quận C, lúc này khoảng 03 giờ 45 phút thì bị bắt quả tang.

Tang, tài vật thu giữ:

  • - Thu giữ của Ngô Văn Q1: 01 hộp thuốc trực tràng hiệu Stiprol màu xanh trắng bên trong có 02 ống thuốc dạng nước; 01 gói nylon kích thước khoảng (1,5 x 1,5)cm chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Honda wave màu trắng biển kiểm soát: 82B2 - 084.75; 01 điện thoại di động hiệu POCO gắn sim số 0327316641 và số tiền 1.000.000 đồng.
  • - Thu giữ của Thái Thanh T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh có gắn sim 0905471571.
  • - Khám xét khẩn cấp nơi ở của Thái Quốc Đ thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 máy vi tính xách tay hiệu Dell màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, có gắn sim 0898740686.

Tại Bản kết luận giám định số 593/KT-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong gói nylon thu giữ của Ngô Văn Q1 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 0,181 gam.

Qúa trình điều tra các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ và Ngô Văn Q1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu qua điều tra đã thu thập.

Tại Bản cáo trạng số 102/CT-VKSCL ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố:

  • Bị cáo Thái Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Thái Quốc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Ngô Văn Q1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trên. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Thái Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Thái Quốc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Ngô Văn Q1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự, là đúng tội, không oan. Các bị cáo đã nhận thấy sai trái, ăn năn hối cải, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ và Ngô Văn Q1 theo Bản cáo trạng số 102/CT-VKSCL ngày 12/11/2024. Đồng thời đề nghị Hội đồng.

Tuyên bố bị cáo Thái Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo Thái Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Ngô Văn Q1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Thái Thanh T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Thái Quốc Đ mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù và phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng: khoản 1 Điều 250; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Ngô Văn Q1 mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với mẫu giám định chất ma túy và vỏ gói hoàn trả lại sau giám định, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda wave, biển kiểm soát: 82B2 - 084.75 và 01 điện thoại di động hiệu Poco gắn sim 0327.316.641 của Ngô Văn Q1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, có gắn sim 0898740686 của Thái Quốc Đ, dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Riêng sim gắn theo điện thoại cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen và số tiền 1.000.000đồng của T, đây là các tài sản dùng để trao đổi, mua bán trái phép chất ma tuý nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh là của anh Nguyễn Ngọc T1 (sinh năm 2005, trú T, T, Quảng Nam, là người thuê trọ trong nhà của Thái Thanh T). Anh T1 cho Thái Thanh T mượn điện thoại, sau đó T gắn sim số 0905471571 vào để liên lạc mua ma túy. Xét thấy anh T1 không biết việc T sử dụng chiếc điện thoại vào việc phạm tội, nên đề nghị trả lại điện thoại cho anh T1, tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại số 0905.471.xxx.
  • - Đối với 01 hộp thuốc có chữ Stiprol, bên trong có 02 ống thuốc nước chưa qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn Q1 dùng để cất giấu ma tuý, hiện không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Các bị cáo Thái Thành T2, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/7/2024, Thái Thanh T liên hệ qua tài khoản zalo của Thái Quốc Đ đặt mua 300.000 đồng ma tuý đá để sử dụng. Do không có tiền nên T thoả thuận với Đ cầm cho T 01 máy tính xách tay hiệu Dell với giá 2.000.000 đồng, sau khi trừ đi tiền mua ma túy thì Đ đưa lại T số tiền 1.700.000 đồng và Đ đồng ý. Sau đó T điện thoại cho Ngô Văn Q1, thuê Q1 đem máy tính đến giao cho Đ tại phòng trọ số 404 tại dãy nhà trọ số G đường H, phường H, quận L và nhận tiền kèm theo 01 gói ma tuý được ngụy trang bên trong 01 hộp thuốc trực tràng hiệu Stiprol từ Đế để đem về giao lại cho T. Q1 đồng ý nên điều khiển xe mô tô hiệu Honda wave màu trắng biển kiểm soát 82B2 - 084.75 đến nhà T nhận máy tính đem giao cho Đ. Đế đưa trước 1.000.000 đồng và hộp thuốc trực tràng hiệu Stiprol bên trong có giấu gói ma tuý cho Q1. Q1 nhận tiền và hộp thuốc từ Đế vận chuyển về để giao cho T. Trên đường đi, Q1 mở họp thuốc kiểm tra thì thấy bên trong có gói ma tuý, nên Q1 lấy gói ma túy ra giấu vào cốp xe rồi điều khiển xe đến giao cho T như đã thoả thuận. Tuy nhiên, khi đi đến khu vực ngã ba đường T - Đ, thuộc phường H, quận C, lúc này khoảng 03 giờ 45 phút thì Ngô Văn Q1 bị bắt quả tang, thu giữ 01 gói nylong chứa tinh thể màu trắng và một số tang tài vật khác.

Tại Bản kết luận giám định số 593/KT-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong gói nylon thu giữ của Ngô Văn Q1 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 0,181 gam.

Hành vi bán cho Thái Thanh T 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,181 gam nêu trên của bị cáo Thái Quốc Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Thái Thanh T đặt mua ma túy của Đ rồi thuê Ngô Văn Q1 vận chuyển về giao cho mình để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Ngô Văn Q1 sau khi kiểm tra biết rõ gói hàng mà T thuê vận chuyển là ma túy nhưng Q1 vẫn cất dấu vào cốp xe để vận chuyển về giao cho T, hành vi này của bị cáo Ngô Văn Q1 đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q1 biết rõ tác hại của chất ma túy đối với cộng đồng, xã hội, sức khỏe, tinh thần của người sử dụng và sự phát triển của nòi giống dân tộc. Nhưng các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo T, Đ có nhân thân xấu trong đó T đã 01 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, 06 lần bị đưa đi cai nghiện tập trung; bị cáo Đ năm 2020 bị xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn như mức án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị xử phạt các bị cáo là phù hợp. Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo Ngô Văn Q1 tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo Đ. Hội đồng xét xử áp sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả 03 bị cáo và áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Q1 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với mẫu giám định chất ma túy và vỏ gói hoàn trả lại sau giám định, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda wave; biển kiểm soát: 82B2 - 084.75 và 01 điện thoại di động hiệu Poco gắn sim 0327.316.641 của Ngô Văn Q1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, có gắn sim 0898740686 của Thái Quốc Đ, dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen thu giữ tại chỗ ở của Thái Quốc Đ; số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thu giữ khi bắt quả tang Ngô Văn Q1, đây là các tài sản Thái Thanh T và Thái Quốc Đ dùng để trao đổi, mua bán trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh thu giữ của Thái Thanh T. Đây là tài sản của anh Nguyễn Ngọc T1, là người thuê trọ trong nhà của Thái Thanh T. Anh T1 cho Thái Thanh T mượn điện thoại, sau đó T gắn sim số 0905471571 vào để liên lạc mua ma túy. Xét thấy anh T1 không biết việc T sử dụng chiếc điện thoại vào việc phạm tội, nên cần trả lại điện thoại cho anh T1. Đối với sim điện thoại số 0905.471.xxx của T cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 hộp thuốc có chữ Stiprol, bên trong có 02 ống thuốc nước chưa qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn Q1 dùng để cất giấu ma tuý, hiện không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về án phí: Các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q1 phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Thái Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Thái Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo Ngô Văn Q1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
    1. 1.1 Căn cứ: khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

      Xử phạt: Thái Quốc Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/7/2024.

      Phạt bổ sung bị cáo Thái Quốc Đ: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

    2. 1.2 Căn cứ: điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

      Xử phạt: Thái Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/7/2024.

      Phạt bổ sung bị cáo Thái Thanh T: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

    3. 1.3 Căn cứ: điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 250; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

      Xử phạt: Ngô Văn Q1 02 (hai) năm. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/7/2024.

      Phạt bổ sung bị cáo Ngô Văn Q1: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

  2. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015: Tuyên.
    • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
      • + Toàn bộ mẫu giám định chất ma túy và vỏ gói hoàn trả lại theo Bản kết luận giám định số 593/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an T.
      • + 01 hộp thuốc có chữ Stiprol, bên trong có 02 ống thuốc nước chưa qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn Q1.
      • + 01 thẻ sim điện thoại số 0905.471.xxx (gắn trong điện thoại Iphone màu xanh thu giữ của Thái Thanh T)
      • + 01 thẻ sim điện thoại số 0327.316.xxx (gắn trong điện thoại Poco thu giữ của Ngô Văn Q1).
      • + 01 thẻ sim điện thoại số 0898.740.xxx (gắn trong điện thoại Iphone màu vàng thu giữ của Thái Quốc Đ).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng gồm:
      • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda; Số loại: wave; số máy: JA39E2587098; số khung: RLHJA3927NY090182; Màu sơn: Trắng đen bạc; Biển số đăng ký: 82B2-084.75; Tình trạng xe: Đã qua sử dụng, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 82023434 đứng tên Ngô Văn Q1 (thu giữ của bị cáo Ngô Văn Q1).
      • + 01 điện thoại di động hiệu Poco (thu giữ của Ngô Văn Q1).
      • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng (thu giữ của bị cáo Thái Quốc Đ).
      • + 01 máy tính xách tay hiệu Dell, màu đen (thu giữ tại chỗ ở của bị cáo Thái Quốc Đ).
      • + Số tiền 1.000.000 đồng (thu giữ khi bắt quả tang Ngô Văn Q1)
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc T1:
      • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh (Thu giữ của Thái Thanh T).

      (Các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngầy 27/11/2024; Riêng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 82023434 đứng tên Ngô Văn Q1 đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án; Số tiền 1.000.000 đồng được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036411.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ mở tại Kho bạc Nhà nước quận C, theo giấy nộp tiền ngày 26/11/2024).

    • 3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

      Buộc các bị cáo Thái Thanh T, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

    • Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - CQDĐ -Công an quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS – Công an Q, Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Nhà tạm giữ Công an quận Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2023/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 112/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội Mua bán trái phép chất ma túy; Tội Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Thanh T, Thái Quốc Đ, Ngô Văn Q phạm tội mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger