|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1117/2023/HSPT Ngày: 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
- + Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
- Bà Chử Phương Ngọc
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Công Huy- Thư ký Toà án, Toà án nhân dân thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Mai Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 944/2023/HSPT ngày 27/11/2023 do có kháng cáo của bị hại là bà Cao Thị Thanh T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 254/2023/HSST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Bị cáo bị kháng cáo: Họ và tên: Bành Thị P, sinh năm 1958; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà B phố T, tổ B, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Họ và tên bố: Bành Văn N (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1 (đã chết); Chồng: Phạm Quang D, sinh năm 1960; Bị cáo có 01 con sinh năm 1990; Gia đình có 6 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số [...] lập ngày 10/7/2023 tại Công an quận L và lý lịch bị can thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Bà Cao Thị Thanh T, sinh năm 1964. Trú tại: Số nhà B phố T, tổ B, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Long Biên thì vụ án có nội dung như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 23/11/2022, chị Phạm Thị Thanh T2 (Sinh ngày: 14/10/1990; HKTT: tổ B, phường T, quận L, Hà Nội – con gái của Bành Thị P) đang cầm chổi quét lá cây rụng trước cửa nhà thì bị bà Cao Thị Thanh T (Sinh ngày: 26/9/1964; HKTT: tổ B, phường T, quận L, Hà Nội) lấy nước đái lợn té về phía chị T2 và cửa nhà của Bành Thị P. Nghe thấy tiếng chị T2 kêu thì P chạy từ trên tầng 2 xuống tầng 1 thì P thấy 1/3 gian nhà ngoài tầng 1 của nhà bà P bị hắt nước bẩn, chị T2 bị té nước bẩn ướt hết đầu tóc và áo. Lúc đó, P nhìn thấy bà T vẫn đứng trước cửa nhà, trên tay bà T cầm 01 chiếc chổi có cán làm bằng tre. Do tức giận nên P đã vào trong nhà lấy 01 chiếc chổi cán bằng tre dài khoảng 140 cm để đánh bà T. Sau đó, P dùng tay cầm chiếc chổi vụt liên tiếp nhiều nhát vào vùng đầu và vùng cẳng tay của bà T. Bà T cũng dùng chổi để chống đỡ và đánh lại P nên chiếc chổi của bà T bị gẫy. Do thấy P và bà T đánh nhau nên chị T2 có cầm một đoạn gỗ cốt pha xông để can ngăn nhưng không tham gia đánh nhau. Sau đó do chổi bị gẫy nên bà T chạy sang bên kia đường, dùng tay cầm lấy 01 chậu đựng hoa bằng nhựa và 01 chậu đựng hoa bằng sứ để ở gần đó để ném về phía bà P. Do khoảng cách lúc đó giữa bà P và bà T chỉ khoảng 02m nên bà T đã ném trúng vai phải bà P. Sau đó, bà T xông vào tụt quần và cào cấu vùng bẹn bà P gây xây xát chảy máu. Khi thấy đánh nhau, một số người can ngăn thì bà T và P dừng lại không đánh nhau nữa sau đó đã đến cơ quan công an để trình báo.
Về thương tích: Bà Cao Thị Thanh T bị vết thương da đầu vùng đỉnh; chấn thương phần mềm khuỷu tay trái, cẳng tay hai bên. Bành Thị P bị chấn động, tổn thương vai, tổn thương nông tại háng và đùi.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc chổi tre dài 140 cm; 01 chiếc chổi tre dài 140 cm bị gãy; 01 thanh gỗ dài 60cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1806/GĐ-TTPY ngày 20/12/2022 của Trung tâm P1 kết luận bà Cao Thị Thanh T bị:
- Sẹo vết thương vùng đỉnh phải: 02%
- Các vết biến đổi sắc tố da vùng cẳng tay hai bên: 02%
- Các chạm thương phần mềm vùng trán, khuỷu phải, đùi, mạn sườn phải không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng: Thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y tâm thần không quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.
- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích và các chạm thương do vật tày, tày có cạnh gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của bà Cao Thị Thanh T là: 04%.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 67/GÐ-TTPY ngày 18/01/2023 của Trung tâm P1 kết luận bà Bành Thị P bị:
- 02 vết sẹo sây sát vùng 1/3 dưới mặt trong đùi phải: 01%.
- Vùng đầu, mặt, cánh tay phải, bàn tay phải, hạ sườn lưng không có sưng nề bầm tím, không có sẹo thương tích: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các thương tổn này.
- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tổn do vật tày, vật tày có cạnh gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của bà Bành Thị P là: 01%
Về dân sự: Bà Cao Thị Thanh T yêu cầu Bành Thị P bồi thường thiệt hại về thương tích số tiền 20.000.000 đồng. Bành Thị P yêu cầu Cao Thị Thanh T bồi thường thiệt hại về thương tích số tiền 14.000.000 đồng. Yêu cầu bồi thường bao gồm chi phí thăm khám, chi phí giám định, chi phí thuốc điều trị và chi phí tổn hại sức khỏe.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 254/2023/HSST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:
Tuyên bố bị cáo Bành Thị P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134 điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; Áp dụng các Điều 106, 135, 299,
326, 328, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng các Điều 357; 584 và 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.; Luật Thi hành án.
Xử phạt bị cáo Bành Thị P 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân phường T, quận L, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về dân sự: Buộc bị cáo Bành Thị P phải bồi thường cho bà Cao Thị Thanh T 6.454.201 đồng. Bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên lai thu tiền số AA/2020/0051079 ngày 11/9/2023. Nay còn phải bồi thường tiếp 1.454.201 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Không chấp nhận các yêu cầu bồi thường các khoản khác của bà Cao Thị Thanh T và của bị cáo Bành Thị P.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 02/10/2023, bà Cao Thị Thanh T kháng cáo đề nghị không cho bị cáo Bành Thị P được hưởng án treo và đề nghị tăng mức bị cáo phải bồi thường cho bà.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:
Về hình thức: Kháng cáo của bị hại là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1, Điều 134- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo của bị hại là không có căn cứ cần bác yêu cầu. Đối với phần án phí, mặc dù không có kháng cáo, kháng nghị về nội dung này nhưng bị cáo P là người cao tuổi nên được miễn án phí sơ thẩm. Bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 355; Điều 356; khoản 3, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự: Giữ nguyên phần hình phạt và dân sự của bản án hình sự sơ thẩm số 254/2023/HSST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, sửa phần án phí tại bản án hình sự sơ thẩm số 254/2023/HSST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Bành Thị P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134 điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Bành Thị P 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân phường T, quận L, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về dân sự: Buộc bị cáo Bành Thị P phải bồi thường cho bà Cao Thị Thanh T 6.454.201 đồng. Bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên lai thu tiền số AA/2020/0051079 ngày 11/9/2023. Nay còn phải bồi thường tiếp 1.454.201 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Không chấp nhận các yêu cầu bồi thường các khoản khác của bà Cao Thị Thanh T và của bị cáo Bành Thị P.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thanh Huyền |
Bản án số 1117/2023/HSPT ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 1117/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bành Thị Phúc Cố ý gây thương tích
