TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1116/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-11-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Nhung
- Ông Nguyễn Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 466/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1200/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1262/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Ngọc A, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: B D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
Địa chỉ: B D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/5/2023, trong bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Ngô Thị Ngọc A trình bày:
Bà A và ông Đỗ Minh H có đăng ký kết hôn vào năm 2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 311/2014, quyển số 02/2014 ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu hai vợ chồng bà chung sống hạnh phúc nhưng càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do lối sống hai bên không phù hợp, ông H hay sống xa nhà và thay đổi về tính tình. Trong 2 năm gần đây ông bà đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vì vậy từ tháng 12/2022 ông H đã chuyển ra ngoài và sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn gia đình trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà A đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà A và ông H có 01 con chung tên Đỗ Minh T, sinh ngày 25/01/2015. Bà A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà A đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà A khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Đỗ Minh H vắng mặt.
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự giải quyết tranh chấp nhưng không thành. Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Nguyên đơn bà Ngô Thị Ngọc A có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- - Bị đơn ông Đỗ Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa vào các ngày 03/11/2023 và 21/11/2023 nhưng ông H vắng mặt không có lý do.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là đã tự nguyện từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ Đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Ngọc A, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về ly hôn. Do bị đơn ông Đỗ Minh H hiện cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:
Bà Ngô Thị Ngọc A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa đề nghị Tòa án xét xử vụ án ly hôn không có sự tham gia của bà. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Đỗ Minh H đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về các yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Ngô Thị Ngọc A và ông Đỗ Minh H là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 311/2014, quyển số 02/2014 ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xét thấy mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa bà A và ông H là có thật, bà A và ông H đã ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Bên cạnh đó, ông H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến các buổi hoà giải tại toà, điều này cho thấy ông H không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng, quan tâm giúp đỡ và gắn kết với nhau nhưng giữa bà A và ông H hiện thực đã không còn sự gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.
- - Về con chung: Bà A và ông H có 01 con chung là tên Đỗ Minh T, sinh ngày 25/01/2015. Bà A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Xét bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi con và trẻ T cũng có nguyện vọng được sống với mẹ nên giao trẻ T cho bà A chăm sóc là phù hợp. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của bà A, giao trẻ T cho bà A được quyền nuôi dưỡng. Do ông H không đến Tòa để trình bày ý kiến nên không thể ghi nhận ý kiến của ông H về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét, sau này phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
- - Về tài sản chung: Bà A đề nghị tự thoả thuận; về nợ chung: Bà A khai không có. Do ông H vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét, sau này nếu phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Ngô Thị Ngọc A phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng bà A đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014117 ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà A đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Ngô Thị Ngọc A.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Ngọc A được ly hôn với ông Đỗ Minh H.
- Quan hệ hôn nhân của bà A và ông H chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 311/2014, quyển số 02/2014 ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà A và ông H không còn giá trị pháp lý.
- - Về quan hệ con chung: Bà A và ông H có 01 con chung là Đỗ Minh T, sinh ngày 25/01/2015. Giao con chung là trẻ Đỗ Minh T cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông H do bà A không yêu cầu cấp dưỡng và ông H vắng mặt nên sau này phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
- + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Trong trường hợp bà A không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, ông H hoặc bà A hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- + Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- + Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
- - Về tài sản chung: Bà A đề nghị tự thoả thuận; về nợ chung: Bà A khai không có. Do ông H vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét, sau này nếu phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo:
Bà Ngô Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà bà A đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014117 ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà A đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bà Ngô Thị Ngọc A, ông Đỗ Minh H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phùng Thị Huyền Minh |
Bản án số 1116/2023/HNGĐ-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1116/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
