TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1116/2023/DS-PT
Ngày: 30/11/2023
V/v Đòi quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Các Thẩm phán: 1. Bà Vũ Thị Thu Hương
2. Bà Phan Thị Tú Oanh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà An Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tiễn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29/11/2023 và ngày 30/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 372/2023/DSPT ngày 04/10/2023 về việc “Tranh chấp đòi nhà, đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 166/2023/DS-ST ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4637/2023/QĐ-PT ngày 09/10/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 14796/2023/QĐ-PT ngày 06/11/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1984;
Địa chỉ: số C ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoài B (có mặt ngày 29/11/2023, vắng mặt ngày 30/11/2023)
Địa chỉ: 1 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn:
1. Ông Trương Văn K, sinh năm 1986
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1991 (có mặt)
Địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Văn K: ông Trương Văn N, sinh năm 1957 (có mặt)
Địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Văn T, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Trần Thị Kim N1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
3. Trương Tiểu B1, sinh năm 2003 (vắng mặt)
4. Trương Hiểu P, sinh năm 2004 (vắng mặt)
5. Trương Thị Như Ý, sinh năm 2005 (vắng mặt)
6. Trẻ Trương Tiểu Thái D, sinh năm 2008 (vắng mặt)
7. Trẻ Trương Long Tiểu V, sinh năm 2012 (vắng mặt)
8. Trẻ Trương Nguyễn, sinh năm 2014 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của trẻ D, V: ông Trương Văn T và bà Trần Thị Kim N1.
Đại diện hợp pháp của trẻ N2: ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Tuyết S.
9. Ông Trần Chí Đ1, sinh năm 1992 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng bản tự khai và các biên bản hòa giải lập tại Tòa án, người đại diện nguyên đơn trình bày:
Năm 2020 ông Nguyễn Anh Đ có nhận chuyển nhượng của ông Trần Chí Đ1 nhà đất số B X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 000869TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/03/2020 lập tại Văn phòng C (BL.46-50).
Phần nhà đất mang số trên do ông Trần Chí Đ1 nhận chuyển nhượng từ ông Trương Văn T và bà Nguyễn Thị Kim N3 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 2406/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2004, cập nhật biến động tên ông Trần Chí Đ1 ngày 31/10/2017. Sau đó cập nhật biến động sang tên nguyên đơn Nguyễn Anh Đ ngày 04/02/2021.
Khi ông Đ đến nhận nhà đất trên thì có gia đình ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Tuyết S là người sống trong nhà này, không đồng ý giao nhà cho ông Đ.
Do vậy, ngày 11/7/2022 ông Đ nộp Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xem xét giải quyết: Buộc gia đình ông K, bà S di dời đi nơi khác trả lại nhà đất trên cho ông Đ.
Phía bị đơn ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Tuyết S trình bày:
Vợ chồng ông K, bà S không biết ông Đ là ai và không mượn nhà hay mua bán, cầm cố căn nhà này với ông Nguyễn Anh Đ.
Nhà đất số B X, xã X, huyện H là của anh ruột ông K là ông Trương Văn T đứng tên sở hữu. Khoảng năm 2015 đến 2017, do cần tiền kinh doanh và do vướng nợ xấu nên ông T là thủ tục sang tên nhà đất trên cho em Trần Chí Đ1 là người giúp việc của ông T đứng tên dùm.
Sau đó, ông T cần vay tiền gấp nên ngày 03/01/2020 ông T vay ông Nguyễn Anh Đ số tiền 3 tỷ đồng theo Hợp đồng vay tiền số 00031 quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/01/2020 tại Văn phòng C.
Để đảm bảo cho Hợp đồng vay này, ông Nguyễn Anh Đ buộc ông Trương Văn T phải làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất số B X, xã X, huyện H, nhưng vì nhà đất đang đứng tên Trần Chí Đ1 nên ông T đã yêu cầu em Trần Chí Đ1 làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất này cho ông Nguyễn Anh Đ cùng ngày 03/01/2020 tại Văn phòng C với thỏa thuận khi ông T trả hết tiền vay gốc và lãi thì hai bên sẽ hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất.
Do đó, vợ chồng ông K không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 08/02/2023 bị đơn ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Tuyết S có đơn phản tố, yêu cầu:
- Yêu cầu nguyên đơn hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 2406/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2004, cập nhật sang tên Trần Chí Đ1 ngày 31/10/2017 và hoàn trả về nguyên trạng trước khi mang tên Nguyễn Anh Đ.
- Yêu cầu đưa ông Nguyễn Chí Đ2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Trần Chí Đ1: Ông là người làm của ông Trương Văn T, vào khoảng năm 2015-2017, do cần vay tiền phục vụ công việc kinh doanh và do có nợ xấu ngân hàng nên ông T đã làm thủ tục sang tên cho ông Đ1 đứng tên giùm nhà đất số B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, do cần tiền gấp nên ngày 03/01/2020 ông T đã vay của ông Đ2 số tiền 3.000.000.000 đồng, theo Hợp đồng vay tiền số 00031; quyển số: 01 TP/CC - SCC/HĐGD ngày 03/01/2020. Để cho ông T vay tiền, ông Đ2 buộc ông T phải ký Hợp đồng công chứng chuyển nhượng nhà đất số B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Đ2, khi này nhà đất đã đứng tên Trần Chí Đ1 nên ông Đ2 buộc ông T yêu cầu ông Đ1 ký vào Hợp đồng công chứng chuyển nhượng nhà đất cho ông Đ2 thì ông Đ2 mới giao tiền cho vay. Do cần tiền nên ông T đã đồng ý và có giao kết khi trả hết tiền vay cả gốc và lãi thì sẽ hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nêu trên.
Ông Đ1 khẳng định nhà đất trên là của ông T, không phải của ông Đ1, còn ông Đ2 cũng chỉ cầm tài sản của ông T chứ không có việc mua bán, đồng thời ông Đ2 cũng chưa từng vào căn nhà trên lần nào. Ông Đ1 biết sự việc như vậy trình bày rõ cho Tòa án biết, ngoài ra, ông Đ1 không có yêu cầu gì.
Ông Trương Văn T - có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T là ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Nhà đất số B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trước kia thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Trương Văn T và bà Trần Thị Kim N1, ông T có nhờ ông Trần Chí Đ1 đứng tên giùm để vay Ngân hàng, khi vay xong thì ông T không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên ông T có vay của ông Đ2 số tiền 3.000.000.000 đồng. Đến nay ông T vẫn chưa trả nợ cho ông Đ2.
Ông T yêu cầu Tòa án xem xét:
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
- Hủy việc cập nhật sang tên cho ông Đ2 ngày 04/02/2021 trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 2406/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2004, cập nhật sang tên Trần Chí Đ1 ngày 31/10/2017.
- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Đ2 và ông Đ1 vô hiệu do giả cách vì đây là việc vay tiền. Ông T đồng ý trả lại cho ông Đ2 số tiền gốc đã vay và lãi suất theo quy định của pháp luật, yêu cầu ông Đ2 sang tên nhà đất lại cho ông T.
Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã đưa vụ án ra xét xử và quyết định tại Bản án sơ thẩm số 166/2023/DS-ST ngày 05/05/2023 như sau:
“1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh Đ về việc "tranh chấp đòi nhà, đất” với ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S.
2.Buộc gia đình ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S di dời đi nơi khác trả lại nhà đất so B X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số: 15(TX)XTĐ do UBND huyện H cấp ngày 15/11/2004, hồ sơ gốc số 24 06/2004, cập nhật biến động ngày 04/02/2021 cho ông Nguyễn Anh Đ.”.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, quyền thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 06/5/2023 bị đơn - ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trương Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án vừa nêu.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Các bên đương sự không thỏa thuận được
về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đồng ý bản án sơ thẩm, không đồng ý yêu cầu kháng cáo.
Những người kháng cáo ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S và ông Trương Văn T trình bày: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lý do:
Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa ông Trần Chí Đ3 vào tham gia tố tụng là thiếu sót nghiêm trọng, vì: ông Trần Chí Đ1 là người ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh Đ theo lệnh của ông Trương Văn T, trong khi thực chất là ông T ký hợp đồng vay tiền của ông Đ nên kêu Trần Chí Đ1 ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Đ nhằm mục đích thế chấp cho hợp đồng vay của ông T.
Bị đơn ông Trương Văn K do ông Trương Văn N đại diện trình bày:
Cha của ông Trương Văn K là Trương Văn N có đơn thưa gởi Tòa án cấp phúc thẩm ngày 10/10/2023 nêu: Nhà đất B ấp X, xã X do ông N mua của vợ chồng ông T với số tiền 2 tỷ đồng vào ngày 26/9/2012. Vì giấy tờ nhà ông T đang vay Ngân hàng T2 nên ông T có mượn lại và hứa 03 năm đến ngày 26/9/2015 sẽ trả giấy tờ nhà cho ông N. Ông Trương Văn N và con Trương Văn K vào ở trong căn nhà trên cùng ngày mua nhà 29/9/2012 cho đến nay. Ông N gởi kèm hợp đồng mua nhà viết giấy tay ngày 26/9/2012 giữa người bán Trương Văn T, Trần Thị Kim N1 và người mua Trương Văn N.
Bà Nguyễn Thị Tuyết S trình bày: Bà yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm không đưa ông Trần Chí Đ1 vào tham gia tố tụng và không xem xét đứng các tình tiết khách quan.
Cha chồng bà là ông N mua căn nhà trên cho chồng bà với giá 2 tỷ đồng. Gia đình bà ở trong căn nhà trên với tư cách là chủ sở hữu. Do tin lời ông T nên cho ông T mượn giấy tờ nhà, và vì lúc đó ông T đang vay tiền Ngân hàng nên chờ 3 năm sau là năm 2015 sẽ chuộc ra để đi công chứng sang tên. Ông T chỉ ủy quyền cho ông Trần Chí Đ1 đứng tên dùm căn nhà chứ thực chất là nhà của ông T, ông Đ1 cũng đã trình bày như vậy. Ông T chỉ vay tiền ông Nguyễn Anh Đ chứ thực ra không bán nhà cho ông Đ. Gia đình bà không có giao dịch gì với ông Đ. Nay ông T nợ tiền ông Đ như thế nào thì gia đình bà xin trả nợ để giữ lại căn nhà làm chỗ ở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trương Văn T vắng mặt. Theo bà S trình bày ông T đã bị Công an bắt tạm giam trong vụ án hình sự từ ngày 24/10/2023, nhưng không cung câp tài liệu chứng minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm và trước khi nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo, xét thấy:
- Ông Trương Văn T vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai, đề nghị đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông T.
- Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, xét thấy: Bị đơn yêu cầu đưa ông Trần Chí đ vào tham gia tố tụng do ông Đ1 là người đứng tên trên giấy tờ sở hữu nhà đất tranh chấp, xét thấy ông Đ1 có liên quan đến việc giải quyết vụ án, tuy lúc đầu Tòa án cấp sơ thẩm không đư ông Đ1 vào tham gia tố tụng nhưng sau đó đã khắc phục đưa ông Đ1 vào tham gia tố tụng từ 24/04/2023 đã trình bày rõ nội dung vụ việc và xác định không có yêu cầu gì, phía nguyên đơn và bị đơn cũng không có yêu cầu gì đối với ông Đ1 và ông Đ1, do đó yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để đưa ông Đ1 vào tham gia tố tụng là không cần thiết. Đối với kháng cáo việc ông K và ông N nhận chuyển nhượng nhà đất từ ông T là không có cơ sở. Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông T và ông Đ1, giữa ông Đ1 và ông Đ đã hoàn tất, không có mối quan hệ giữa hợp đồng vay tiền giữa ông T với ông Đ và hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Đ1 với ông Đ. Những người đang cư ngụ trên nhà đất không có căn cứ chứng minh họ được sở hữu hợp pháp nhà đất trên.
Do vậy, đề nghị: Đình chỉ kháng cáo của ông Trương Văn T và không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Tuyết S, giữ nguyên bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về hình thức: Kháng cáo của ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S và ông Trương Văn T trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận để xem xét lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.
Các đương sự đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và có mặt đầy đủ, riêng các đương sự không kháng cáo và không có yêu cầu, ý kiến tại giai đoạn sơ thẩm nay tiếp tục vắng mặt tại giai đoạn phúc thẩm (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt), việc vắng mặt của các đương sự này không ảnh hưởng đến việc giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử theo quy định chung tại Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với ông Trương Văn T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T ngày 20/10/2023, ông T có đơn ngày 21/10/2023 xin hoãn phiên tòa ngày 26/10/2023,
ngày 02/11/2023 Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho ông T và những người liên quan tại địa chỉ cư ngụ nhưng không có người nhận, do vậy ngày 09/11/2023 Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết cho ông T cùng bị đơn và những người liên quan khác tại địa chỉ cư ngụ về ngày giờ mở lại phiên tòa vào ngày 29/11/2023, phía bị đơn có mặt nhưng ông T vẫn vắng mặt, xem như từ bỏ kháng cáo.
[2]. Về nội dung kháng cáo: Đương sự kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm và sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Xét kháng cáo về yêu cầu đưa ông Trần Chí Đ1 vào tham gia tố tụng và triệu tập đến phiên tòa, nhận thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa ông Trần Chí Đ1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bản thân ông Trần Chí Đ1 đã có bản khai trình bày và nêu rõ ông không có yêu cầu gì. Những người tham gia tố tụng khác gồm nguyên đơn, bị đơn và chính ông Trương Văn T không có yêu cầu gì đối với ông Trần Chí Đ1. Phía ông Trần Chí Đ1 đã có đơn ngày 24/4/2023 (BL.109) yêu cầu xét xử vắng mặt ông Đ1.
Như vậy, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc hủy bản án sơ thẩm để đưa ông Trần Chí Đ1 vào tham gia tố tụng đã được giải quyết từ cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để hủy án theo yêu cầu của bị đơn.
[2.2] Về trình bày của bị đơn cho rằng ông Trương Văn N mua lại nhà đất nêu trên từ vợ chồng Trương Văn T và Trần Thị Kim N1 theo Giấy mua bán tay ngày 12/9/2012. Tờ giấy viết tay ghi Hợp đồng mua bán nhà có dấu chỉnh sửa tháng và năm tại nhiều điểm trên hợp đồng, nội dung về việc ông T, bà N1 bán nhà cho ông Trương Văn K và ông Trương Văn N, giá mua bán là 2 tỷ đồng giao tiền 1 lần vào ngày 26/12/2009 tại nhà ông Trương Văn N tại số F ấp X xã X, huyện H. Bên bán trả hẹn trả giấy tờ (nhà đất) cho bên mua ngày 26/9/2015, không thỏa thuận thời hạn công chứng nhà và giao nhà.
Xét thấy: Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm ông Trương Văn N và bản thân ông Trương Văn T không hề đề cập về sự việc này. Nội dung giấy mua bán tay vừa nêu có nhiều điểm không hợp lý.
Nhà đất tranh chấp đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 2406/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2004 cho ông Trương Văn T và bà Trần Thị Kim N1, nhưng tại thời điểm năm được cho là ông T bà N1 sang nhượng lại nhà đất trên (năm 2012), các bên đã không thực hiện quy định về công chứng chứng thực đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà đất theo quy định tại Khoản 3 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 (Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban
nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn), do vậy Hợp đồng mua bán nhà viết tay ngày 12/9/2012 là không có giá trị pháp lý, nên không có giá trị chứng cứ để chứng minh cho quyền sở hữu của ông Trương Văn K và ông Trương Văn N đối với nhà đất đang tranh chấp trên.
[2.3] Về các yêu cầu của bị đơn tại giai đoạn sơ thẩm đã được Tòa án sơ thẩm nêu rõ tại phần nhận định. Hơn nữa, bị đơn không phải là chủ sở hữu của nhà đất trên, việc cư ngụ trên nhà đất tranh chấp không có căn cứ pháp luật, giữa bị đơn và nguyên đơn cũng không phát sinh quan hệ hợp đồng nào nên bị đơn không có quyền yêu cầu nguyên đơn hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 2406/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2004, cập nhật sang tên Trần Chí Đ1 ngày 31/10/2017 và tuyên hủy phần cập nhật sang tên Nguyễn Anh Đ.
[2.4] Về phía ông Trương Anh T1 không có đơn yêu cầu độc lập, không đóng tiền tạm ứng án phí nên Tòa án không xem xét yêu cầu của ông.
Ông Trương Văn T kháng cáo có cùng nội dung và yêu cầu như của bị đơn Trương Văn K và Nguyễn Thị Tuyết S. Ông T vắng mặt và không có đơn yêu cầu giải quyết kháng cáo vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, xem như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ điểm d Điều 289, Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn T.
[2.5] Vậy, ý kiến phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở, kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo là đúng pháp luật, căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
[3]. Án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 271, 272, 273, 276, điểm d Điều 289, Khoản 3 Điều 296, Khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S và đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 166/2023/DS-ST ngày 05/05/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, như sau:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh Đ về việc "Tranh chấp đòi nhà, đất” với ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S.
- Buộc ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S và những người đang cư ngụ tại nhà đất di dời đi nơi khác trả lại nhà đất số B X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số: 15(TX)XTĐ do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2004, hồ sơ gốc số 2406/2004, cập nhật biến động ngày 04/02/2021 cho ông Nguyễn Anh Đ.
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Anh Đ tự nguyện chịu. Ông Đ đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- H1 lại tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Anh Đ số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0039906 ngày 20/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trương Văn K, bà Nguyễn Thị Tuyết S phải chịu án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) và ông Trương Văn T phải chịu án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp lần lượt theo các Biên lai thu số 0016476 ngày 08/6/2023 và Biên lai thu số 0016632 ngày 26/6/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn. Các đương sự đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hiền |
Bản án số 1116/2023/DS-PT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi nhà, đất
- Số bản án: 1116/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nhà, đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyen bản án sơ thẩm.
