Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1115/2024/HC-PT

Ngày: 27 - 9 - 2024

V/v khiếu kiện Quyết định hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 324/2024/TLPT-HC ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “khiếu kiện Quyết định hành chính".

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6111/2024/QĐPT ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người khởi kiện: Ông Lê Văn L; sinh năm: 1961, địa chỉ: tổ A, ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông L: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; văn bản uỷ quyền ngày 26/9/2024. (có mặt)

- Người bị kiện: Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh T.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Văn Tiến D; chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn Q; chức vụ: Phó giám đốc; theo văn bản uỷ quyền số 3496 ngày 19/5/2023 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Hoàng N, chức vụ: phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện G; theo văn bản số 3554 ngày 23/5/2023 (xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N1, chức vụ - Chủ tịch.

  2. Ông Lê Văn N2, sinh năm: 1965; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (xin xét xử vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp của ông N2:

    1. Ông Trần Minh T1, sinh năm 1984; địa chỉ: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
    2. Chị Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
    3. Anh Lê Minh T2, sinh năm 1993; địa chỉ: 6 Quốc lộ A, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; theo văn bản uỷ quyền ngày 25/5/2022.
    4. Bà Võ Thị X, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

      Người đại diện theo uỷ quyền của bà X: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; văn bản uỷ quyền ngày 26/9/2024.

Người kháng cáo: Người khởi kiện Lê Văn L.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của ông Lê Văn L và lời trình bày của người đại diện: Ông Lê Văn L yêu cầu Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD đất) số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở T (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 với diện tích 1.943,5m² bởi lý do sau: Phần đất này ông được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện G cấp giấy CNQSD đất theo giấy, số vào sổ H 00747 ngày 09-11-2007 cho ông được quyền sử dụng diện tích 1.943m², có nguồn gốc là cha, mẹ ông cho (đất chưa kê khai) đi kê khai đăng ký lần đầu. Tháng 5 năm 2022 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện G thông báo phần đất của ông có diện tích 799,2m² nằm trong phạm vi công trình đường điện 500KV Đ - C đi qua và sẽ được bồi thường theo quy định.

Tháng 7 năm 2022 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện G thông báo có ông Lê Văn N2 cung cấp giấy CNQSD đất số CS 03865 do Sở TNMT tỉnh T cấp ngày 17-02-2017 cho ông N2 với diện tích 1.943,5m² và yêu cầu được nhận bồi thường. Theo Trung tâm phát triển quỹ đất huyện G thông tin, ông N2 khai nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng từ ông, nhưng hồ sơ cấp giấy của ông N2 có nguồn gốc là thừa kế.

Từ đó ông L cho rằng giấy CNQSD đất cấp cho ông N2 là trái pháp luật, nên trực tiếp đến Sở TNMT tỉnh T nộp đơn khiếu nại, nhưng không được tiếp nhận mà hướng dẫn về nộp đơn tại UBND xã T để được hoà giải.

Không đồng tình nên ông có đơn khởi kiện ra Toà án yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD đất) số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 với diện tích 1.943,5m²

- Người bị kiện trình bày: Tại văn bản trình bày ý kiến số 3715/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 30-5-2023 của Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh thể hiện: Giấy CNQSD đất số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m² có nguồn gốc do ông N2 được thừa kế theo văn bản thoả thuận phân chia tài sản số 33 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng công chứng số 02 công chứng ngày 03-3-2014. Thửa đất 269 tờ bản đồ số 22(BĐĐC lập năm 2005) là tương ứng với thửa 3268 tờ bản đồ số 02 (BĐ 299) bà Huỳnh Thị H (Mẹ ruột ông N2) được cấp giấy CNQSD đất số 01120 QSDĐ/H9 ngày 25-11-1994 theo Quyết định giao đất của UBND huyện G số 968/QĐ-UB ngày 25-11-1994.

Đối với giấy CNQSD đất số AL 478863, số vào sổ H 00747/23/2007/QĐ-UBND tại thửa 213, tờ bản đồ số 23 (BĐĐC lập năm 2000), diện tích 1.943m², UBND huyện G cấp cho ông Lê Văn L ngày 09-11-2007 là cấp trùng với giấy CNQSD đất số 01120 QSDĐ/H9 cấp cho bà Huỳnh Thị H ngày 25-11-1994 tại thửa 3268 tờ bản đồ số 02 (BĐ 299) và tương ứng với thửa đất 269 tờ bản đồ số 22(BĐĐC lập năm 2005) thừa kế cho ông Lê Văn N2.

Từ cơ sở trên, Sở TNMT tỉnh T khẳng định việc cấp giấy CNQSD đất số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m² là đúng quy định tại khoản 1 Điều 179 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013.

- Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Sở TNMT tỉnh T có văn bản trình bày: Sở TNMT tỉnh T cấp giấy CNQSD đất số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m² có nguồn gốc do ông N2 được thừa kế theo văn bản thoả thuận phân chia tài sản số 33 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng công chứng số 02 công chứng ngày 03-3-2014. Thửa đất 269 tờ bản đồ số 22(BĐĐC lập năm 2005) là tương ứng với thửa 3268 tờ bản đồ số 02 (BĐ 299) bà Huỳnh Thị H (Mẹ ruột ông N2) được cấp giấy CNQSD đất số 01120 QSDĐ/H9 ngày 25-11-1994 theo Quyết định giao đất của UBND huyện G số 968/QĐ-UB ngày 25-11-1994.

Đối với phần đất cấp cho ông Lê Văn L theo giấy CNQSD đất số AL 478863, số vào sổ H 00747/23/2007/QĐ-UBND tại thửa 213, tờ bản đồ số 23 (BĐĐC lập năm 2000, toạ độ HN72), diện tích 1.943m², do UBND huyện G cấp ngày 09-11-2007 là cấp trùng với giấy CNQSD đất số 01120 QSDĐ/H9 cấp cho bà Huỳnh Thị H ngày 25-11-1994 tại thửa 3268 tờ bản đồ số 02 (BĐ 299) và đối chiếu sang bản đồ đo vẽ năm 2005 (hệ toạ độ VN 2000) tương ứng với thửa đất 269 tờ bản đồ số 22(BĐĐC lập năm 2005) mà Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Lê Văn N2 ngày 17-02-2017. Nên việc cấp giấy CNQSD đất cho ông L năm 2007 là cấp trùng với giấy CNQSD đất đã cấp cho bà Huỳnh Thị H vào năm 1994.

Xác định việc cấp giấy CNQSD đất số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m² là đúng quy định pháp luật đất đai.

- Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:

Căn cứ vào Điều 32, Điều 116 và Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L về việc yêu cầu huỷ giấy CNQSD số CG 99787, số vào sổ CS 03865 do Sở (TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Lê Văn N2 ngày 17-02-2017 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m².

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 11 tháng 10 năm 2023, ông Lê Văn L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; Ngày 13 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh kháng nghị đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, không xem xét thẩm định tại chỗ đất do ông L đang quản lý sử dụng, có 12 ngôi mộ, có nhà tạm bán tạp hóa.
  • Người bị kiện và người bảo vệ quyền lợi cho người bị kiện vắng mặt.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, chưa điều tra xác minh quá trình sử dụng đất, các hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho ông L, Bà H, không yêu cầu UBND huyện G cung cấp tài liệu chứng cứ của các hồ sơ này để giải quyết vụ án, không xem xét thẩm định tại chỗ; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử lại theo đúng quy đinh pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Vế tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Lê Văn L, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

[2] Về nội dung:

Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy ông Lê Văn L theo giấy CNQSD đất số AL 478863, số vào sổ H 00747/23/2007/QĐ-UBND tại thửa 213, tờ bản đồ số 23 (BĐĐC lập năm 2000, toạ độ HN72), diện tích 1.943m², ngày 09-11-2007. Tháng 5 năm 2022 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện G thông báo phần đất của ông có diện tích 799,2m² nằm trong phạm vi công trình đường điện 500KV Đ - C đi qua và sẽ được bồi thường theo quy định.

Tháng 7 năm 2022 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện G thông báo có ông Lê Văn N2 cung cấp giấy CNQSD đất số CS 03865 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T cấp ngày 17-02-2017 cho ông N2 với diện tích 1.943,5m² và yêu cầu được nhận bồi thường. Theo Trung tâm phát triển quỹ đất huyện G thông tin, ông N2 khai nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng từ ông, nhưng hồ sơ cấp giấy của ông N2 có nguồn gốc là thừa kế.

Từ đó ông L cho rằng giấy CNQSD đất cấp cho ông N2 là trái pháp luật, nên trực tiếp đến Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T nộp đơn khiếu nại, nhưng không được tiếp nhận mà hướng dẫn về nộp đơn tại UBND xã T để được hoà giải.

Không đồng tình nên ông có đơn khởi kiện ra Toà án yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD đất) số CG 997807, số vào sổ CS 03865 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T cấp ngày 17-02-2017 cho ông Lê Văn N2 với diện tích 1.943,5m²

[3] Quá trình giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm đã có vi phạm thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, dẫn tới việc đánh giá chứng cứ còn mâu thuẫn và chưa đủ cơ sở để giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, cụ thể như sau:

[3.1] Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy CNQSD đất cho ông Lê Văn N2 theo giấy số CG 99787, số vào sổ CS 03865 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T cấp ngày 17-02-2017 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m², thể hiện nguồn gốc đất là được thừa kế của cha mẹ theo văn bản thoả thuận phân chia tài sản số 33 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng công chứng số 02 công chứng ngày 03-3-2014. Thửa đất 269 tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) là tương ứng với thửa 3268 tờ bản đồ số 02 (BĐ 299) bà Huỳnh Thị H (mẹ ruột ông N2) được cấp giấy CNQSD đất số 01120 QSDĐ/H9 ngày 25-11-1994 theo Quyết định giao đất của UBND huyện G số 968/QĐ-UB ngày 25-11-1994.

Sở TNMT tỉnh T cấp giấy CNQSD đất cho ông Lê Văn N2 theo giấy số CG 99787, số vào sổ CS 03865 cấp ngày 17-02-2017 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m² là đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên do Giấy CNQSD đất của Bà Huỳnh Thị H được cấp năm 1994 có bị UBND huyện G cấp đúng thủ tục và đúng trùng với thửa đất cấp cho ông Lê văn L năm 2017 không, cấp sơ thẩm đưa UBND huyện G tham gia tố tụng nhưng không yêu cầu UBND huyện G cung cấp tài liệu hồ sơ của 2 hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này và giải trình lý do; không thông báo thụ lý cho UBND, chỉ có duy nhất giấy mời phiên tòa ngày 22/9/2023 và chủ tịch UBND huyện G là ông Nguyễn Văn N1 xin vắng mặt phiên tòa ngày 22/9/2023 (BL128), đồng thời có văn bản cử ông Nguyễn Trọng N3, trưởng phòng tài nguyên môi trường huyện G bảo vệ quyền lợi cho UBND huyện G (BL127), ông N3 xin vắng mặt phiên tòa này do cơ quan có việc đột xuất (BL130); phiên tòa ngày 22/9/2023 cấp sơ thẩm hoãn, mở tiếp ngày 29/9/2023 nhưng không có tài liệu thể hiện đã thông báo cho UBND huyện G và ông N3 là người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị kiện để tham gia phiên tòa.

Tại cấp phúc thẩm đã có văn bản, giấy triệu tập và phiên tòa đã hoãn nhiều lần để yêu cầu UBND huyện G tham gia phiên tòa để làm rõ các nội dung cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu chứng cứ, nhưng UBND huyện G và người bảo vệ quyền lợi không tham gia, đến ngày 27/9/2024 cấp phúc thẩm nhận được đơn xin vắng mặt phiên tòa phúc thẩm.

[3.2] Khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có văn bản yêu cầu bổ sung hồ sơ và tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để làm rõ các nội dung mới có cơ sở giải quyết vụ án thì cấp sơ thẩm cho rằng ông Lê Văn L chỉ yêu cầu huỷ giấy CNQSD số CG 99787, số vào sổ CS 03865 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T cấp cho ông Lê Văn N2 ngày 17-02-2017 tại thửa 269, tờ bản đồ số 22 (BĐĐC lập năm 2005) với diện tích 1.943,5m². Không yêu cầu liên quan đến giấy CNQSD đất số 01120 QSDĐ/H9 ngày 25-11-1994 đã cấp cho bà Huỳnh Thị H, theo Quyết định giao đất của UBND huyện G số 968/QĐ-UB ngày 25-11-1994 là không đúng vì diện tích đất của bà H theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5.800m², khi chuyển sang ông N2 là 1.943,5m², của ông L là 1.943 m². Cấp sơ thẩm chưa yêu cầu UBND huyện G là cơ quan cấp giấy chứng nhận lần đầu cho bà H và ông L cung cấp tài liệu chứng của hai hồ sơ này. Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T chỉ cung cấp hồ sơ công chứng thừa kế từ Bà H sang cho ông N2, còn hồ sơ gốc cấp lần đầu cho bà H thì không có, do vậy không có căn cứ để xác định giấy chứng nhận cấp cho bà H và ông L có cùng một thửa không, trong khi diện tích đất của hai giấy chứng nhận này hoàn toàn khác nhau.

[3.3] Án sơ thẩm nhận định: “về quản lý sử dụng đất, tại phiên toà người đại diện của ông L xác nhận hiện nay không có trực tiếp quản lý sử dụng và hiện trạng đất trống” (trang 6 dòng 1,2,3 từ dưới lên), nhưng biên bản phiên tòa sơ thẩm không thể hiện có nội dung này.

Tại đơn của ông L cũng như tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền khẳng định trên đất ông L được cấp giấy chứng nhận có 12 ngôi mộ của các cụ tổ tiên, trong đó có cả mộ của ông nội của ông L đồng thời cũng là ông ngoại của ông N2. Ông L là trưởng họ chăm sóc mồ mả của dòng tộc, trên đất có một số cây cối và nhà tạm kinh doanh tạp hóa do con ông L là Lê Văn S đang kinh doanh.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà A đại diện theo ủy quyền của ông N2 thừa nhận đất của ông N2 đã được cấp giấy chứng nhận hiện đang để trống không sử dụng.

[3.4] Cấp sơ thẩm không xem xét thẩm định tại chỗ xem ai là người đang sử dụng đất, hiện trạng đất; không yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, xác minh tại địa phương về quá trình sử dụng diện tích đất đã cấp cho bà H, ông N2, ông L để xác định UBND huyện G cấp giấy chứng nhận cho bà H, ông L có đúng không, nếu cấp cho Bà H đúng thì việc ông N2 nhận thừa kế và sở T cấp giấy chứng nhận cho ông N2 mới đúng.

Trong quá trình điều tra, thu thập các tài liệu chứng cứ, xem xét thẩm định tại chỗ nếu có căn cứ xác định các bên tranh chấp về quyền sử dụng đất thì hướng dẫn đương sự khởi kiện vụ án dân sự. (đơn khởi kiện của ông L yêu cầu hủy giấy chứng nhận của ông N2 để ông làm thủ tục được nhận tiền bồi thường do nhà nước thu hồi một phần diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận cho ông L). Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự các đương sự vẫn có quyền yêu cầu hủy quyết định cá biệt (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Những thiếu sót trên của cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông L được chấp nhận nên ông L không phải nộp án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  2. Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn L.
  3. Hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh; Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
  4. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Văn L không phải chịu án phí phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 27/9/2024.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HC, VP, 18bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1115/2024/HC-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 1115/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện Quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger