|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1115/2024/HS-PT Ngày: 11/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Ông Phạm Năng Thành
- Thư ký phiên toà:
Bà Nguyễn Ngọc Trà My – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 979/2024/TLPT-HS,ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Văn T do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 897 /QĐXXPT-HS ngày 05/11 /2024 đối với bị cáo có kháng cáo:
Lư Văn T1, sinh năm: 1987; Nơi thường trú: Đền C, T, Y, Bắc Giang; Trình độ học vấn 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Lư Văn S (Đã chết); Họ tên mẹ: Bế Thị H, sinh năm: 1955; Có vợ là: Lục Thị T2, sinh năm: 1989; Có 03 con: con lớn sinh năm 2009, 2010, con nhỏ sinh năm 2016.
Nhân thân:
- - Bản án số 19/2007/HSST ngày 20/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, Bắc Giang xử phạt Lư Văn T1 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 12 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 329/QĐXPHC ngày 12/6/2006 của Công an huyện Y, Bắc Giang xử phạt Lư Văn T1 350.000 đồng về hành vi đánh nhau.
- - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 333/QĐXPHC ngày 13/6/2006 của Công an huyện Y, Bắc Giang xử phạt Lư Văn T1 350.000 đồng về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 05/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lư Văn T1 là ông Giáp Quang K – Luật sư, Công ty L – thuộc đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa
* Bị hại có kháng cáo: Chị Đỗ Thị Ngọc T3, sinh năm 1988;
Trú tại: Khu E, T, T, Đ, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Anh S1 – Luật sư Văn phòng L1 thuộc đoàn luật sư H2. Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/02/2024, Công an xã D thuộc Công an huyện G nhận được đơn trình báo của chị Đỗ Thị Ngọc T3 - Sinh năm: 1988, trú tại: Khu E, T, T, Đ, Hà Nội về việc: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 05/02/2024, Lư Văn T1 đã có hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn với chị T3 tại khu vực đường đất ngoài chân đê thuộc địa phận thôn T, D, G, Hà Nội.
Vật chứng thu giữ của chị Đỗ Thị Ngọc T3:
- - 01 chiếc váy màu đỏ có bám bẩn phía sau gần chân váy;
- - 01 chiếc áo khoác màu trắng có bám dính bẩn và chất màu đỏ;
- - 01 quần lót màu xanh bị rách thủng một phần diện tích 01x1,5cm.
Tài liệu thu giữ của người làm chứng chị Vũ Hà V - sinh năm: 2000, trú tại: thôn T, D, G, Hà Nội: 01 USB chứa Video liên quan đến vụ việc.
Tài liệu thu giữ của người làm chứng chị Đỗ Thị Ngọc T3: 01 USB nhãn hiệu Kingston màu trắng loại 2GB, bên trong có 01 đoạn ghi âm đề tên “Ghi âm cuộc hội thoại với đối tượng Lư Văn T1”.
Tài liệu thu giữ của người làm chứng anh Đào Văn T4 - sinh năm 1992, trú tại: Tổ D, G, L, Hà Nội: 01 USB chứa video liên quan đến vụ việc ngày 05/02/2024 tại D, G, H.
Quá trình điều tra xác định được nội dung vụ án như sau: Chị Đỗ Thị Ngọc T3 là kế toán của Công ty TNHH T8 có địa chỉ tại: thôn D, M, Đ, Hà Nội và bị cáo Lư Văn T1 là khách hàng của Công ty. Khoảng 19 giờ ngày 05/02/2024, Công ty TNHH T8 tổ chức liên hoan tất niên tại nhà hàng V2, địa chỉ số E, T, G, L, Hà Nội. Bị can Lư Văn T1 là khách mời và chị T3 cùng tham gia liên hoan và có uống rượu say. Sau đó, T1 đến chỗ chị T3 cầm túi xách và điện thoại của T3 mục đích trêu đùa để chị T3 đi theo T1. Khi đi ra khu vực bãi đỗ xe thì T1 mượn xe mô tô của anh Nguyễn Đình V1 - Sinh năm: 1986, trú tại: thôn L, Tây Ninh, T, Thái Bình và bảo chị T3 chở về xưởng tại thôn D, M, Đ, Hà Nội, chị T3 đồng ý. Khi chở T1 đi được khoảng 50m đến vị trí gần cầu Đ thì chị T3 dừng lại vì cảm thấy không tỉnh táo do uống rượu nên đổi lái cho T1 điều khiển xe mô tô, chị T3 ngồi sau. T1 điều khiển xe mô tô chở chị T3 đi về phía Ngô Gia T5 một đoạn khoảng 300m thì quay lại, đi dọc theo đường Đ. Chị
T3 nhắc T1 “Anh đi sai đường rồi” nhưng T1 vẫn tiếp tục điều khiển xe đi. Khi đi trên đê D, Trọng rẽ vào một lối rẽ bên phải để ra cánh đồng ngoài đê khoảng 10 mét thuộc thôn T, D, G, Hà Nội thì dừng xe lại. Chị T3 bảo Trọng đưa điện thoại nhưng T1 không đưa, đồng thời Trọng ôm và ghì người chị T3. Lúc này, chị T3 đẩy T1 ra và chống cự lại thì Trọng vật ngã chị T3 xuống đất. Sau đó, Trọng đè lên người T3, dùng hai tay tì vào hai vai T3 và hôn vào mặt, cổ. Chị T3 lắc đầu không đồng ý thì Trọng cắn vào má trái và môi của chị T3. Khi Trọng cắn vào môi của chị T3 thì chị T3 cắn mạnh vào lưỡi T1. Thấy vậy, T1 ngồi dậy và tát một cái vào má trái của chị T3, dùng hai tay bóp cổ chị T3. Chị T3 vùng vẫy nhưng không được vì bị T1 ngồi đè lên người. Sau đó, Trọng vén váy của chị T3, tụt quần lót của chị T3 xuống dưới cổ chân, đồng thời Trọng tự cởi quần bò của T1 xuống, dùng dương vật của T1 đưa vào sâu bên trong âm đạo của T3 và quan hệ tình dục. Lúc này, chị T3 có chống cự nhưng không được do bị Trọng đè lên người. T1 quan hệ tình dục với chị T3 khoảng 4 - 5 phút thì buông chị T3 ra, chị T3 ngồi dậy tự kéo quần lót lên. Chị T3 tiếp tục bảo Trọng đưa điện thoại thì T1 lại ôm hôn, ghì người chị T3 nhưng chị T3 đẩy được T1 ra và nói: “Anh đưa em về công ty đi”. Sau đó T1 ra mở khóa xe nhưng không mở được thì T1 đưa chìa khóa xe cho chị T3 nhưng chị T3 cũng không mở được. Lúc này, T1 trả điện thoại cho chị T3 thì chị T3 gọi và gửi định vị cho chồng là anh Ngô Quyết T6 - Sinh năm: 1983 đến đón, sau đó, gọi điện cho em gái ruột là chị Đỗ Thị Diễm H1 - Sinh năm: 1993, trú tại: Số A ngách B ngõ A L, L, Hải Phòng để nói về việc chị T3 bị T1 hiếp dâm, T1 cầm điện thoại của chị T3 nói chuyện với chị H1. Chị H1 đã ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị H1 và T1. Khi anh T6 đến nơi, thấy chị T3 và T1 nên đã lời qua tiếng lại với T1. Sau đó anh T6 đưa chị T3 đi khám tại bệnh viện Đ. Ngày 06/2/2024 chị T3 trình báo đến Công an xã D thuộc Công an huyện G.
Tại bản Kết luận giám định số 227/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm P đối với: Lư Văn T1, sinh năm: 1987, trú tại: Thôn Đ, T, Y, Bắc Giang kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
1. Các kết quả chính:
- Tại thời điểm giám định trên cơ thể Lư Văn T1 không có vết sây sát sưng nề bầm tím, không có vết rách da chảy máu. Nên không có tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành thương tích.
- Vùng miệng, bề mặt lưỡi hai bên không thấy sưng nề bầm tím, không thấy vết thương, không chảy máu. Vùng hãm lưỡi có vết trợt niêm mạc kích thước 0,8cm x 0,2cm, bề mặt có giả mạc. Tổn thương ở niêm mạc lưỡi không phải khâu nên không có tỷ lệ % TTCT. Cơ chế hình thành thương tích do vật tày có cạnh gây nên.
- Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục ngoài của Lư Văn T1 phát triển bình thường, không có thương tích.
- Kết luận giám định ADN số 41/24/KLGÐADN-PYHN ngày 27/02/2024 của Trung tâm P.
- Xét nghiệm Anti HIV, HBsAg (test nhanh D) của Lư Văn T1: Âm tính.
2. Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lư Văn T1 tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Vùng miệng, bề mặt lưỡi hai bên không thấy sưng nề bầm tím, không thấy vết thương, không chảy máu. Vùng hãm lưỡi có vết trợt niêm mạc kích thước 0,8cm x 0,2cm, bề mặt có giả mạc. Cơ chế hình thành thương tích do vật tày có cạnh gây nên.
- Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục ngoài của anh Lư Văn T1 phát triển bình thường, không có thương tích.
- Kết luận giám định ADN số 41/24/KLGÐADN-PYHN ngày 27/02/2024 của Trung tâm P:
- + Không thu được ADN của Đỗ Thị Ngọc T3 từ mẫu móng tay, mẫu lau rửa kẽ móng tay, lau rửa bộ phận sinh dục của Lư Văn T1 trên các locus STR đã phân tích.
- Xét nghiệm Anti HIV, HBsAg (test nhanh D) của Lư Văn T1: Âm tính.
Tại bản Kết luận giám định số 232/KLTTCT-TTPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm P đối với Đỗ Thị Ngọc T3, sinh năm: 1988, trú tại: Thôn T, T, Đ kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
1. Các kết quả chính:
- Vết biến đổi sắc tố da vùng má trái: 1,5%.
- Các vết biến đổi sắc tố da vùng ô mô cái bàn tay phải: 01%.
- Các chạm thương phần mềm vùng mềm vùng mặt, ngực, cẳng chân hai bên, không để lại sẹo hay vết biến đổi sắc tố da:00%.
- Màng trinh của chị Đỗ Thị Ngọc T3: Có vết rách cũ sâu vị trí 3 giờ, 6 giờ, giờ, 10 giờ và 12 giờ, không có vết rách mới, không có vết sây sát sưng nề bầm tím. Lỗ màng trinh giãn rất rộng.
- Xét nghiệm phát hiện dấu vết tinh dịch - PSA Card trên mẫu dịch âm đạo, quần lót, áo, váy: Âm tính.
- Kết luận giám định ADN số 43/24/KLGÐADN-PYHN ngày 29/02/2024 của Trung tâm P.
- Xét nghiệm Anti HIV, HBsAg (test nhanh D) của Đỗ Thị Ngọc T3: Âm tính.
- Xét nghiệm HCG (test nhanh D): Âm tính. Xét nghiệm định lượng ẞHCG của của Phòng khám Đ1 (kết quả): < 2.30 U/L (khoảng tham chiếu 0 - 5). Siêu âm tử cung buồng trứng qua đường âm đạo ngày 22/2/2024 của Bệnh viện Đ2: Hiện tại chưa thấy hình ảnh bất thường trên siêu âm.
2. Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thế của Đỗ, Thị Ngọc Tuyết tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT. Cơ chê hình thành thương tích: Các thương tích của chi Đỗ Thị Ngọc T3 do vật tày, vật tày có cạnh gây nên.
- Màng trinh của chị Đỗ Thị Ngọc T3: Có vết rách cũ sâu vị trí 3 giờ, 6 giờ, 7 giờ, 10 giờ và 12 giờ, không có vết rách mới, không có vết sây sát sưng nề bầm tím. Lỗ màng trinh giãn rất rộng.
- Xét nghiệm phát hiện dấu vết tinh dịch - PSA Card trên mẫu dịch âm đạo, quần lót, áo, váy: Âm tính.
- Kết luận giám định ADN số 43/24/KLGÐADN-PYHN ngày 29/02/2024 của Trung tâm P:
- + Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người của vết đỏ trên áo gửi giám định bằng Hb Card: Dương tính.
- + Không thu được đầy đủ dữ liệu ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu lau rửa má môi của Đỗ Thị Ngọc T3 và 02 chiếc quần lót gửi giám định nên không so sánh được với ADN nhiễm sắc thể Y của Lư Văn T1 trên các locus Y-STR đã phân tích.
- + ADN nhiễm sắc thể Y thu được từ mẫu dịch âm đạo của Đỗ Thị Ngọc T3, chiếc áo và chiếc váy gửi giám định trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y của Lư Văn T1 trên các locus Y-STR đã so sánh.
- + ADN thu được từ vết màu đỏ trên chiếc áo gửi giám định có hiện diện ADN của Đỗ Thị Ngọc T3 và Lư Văn T1 trên các locus STR đã phân tích.
- Xét nghiệm Anti HIV, HBsAg (test nhanh D) của Đỗ Thị Ngọc T3: Âm tính.
- Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng,……… xác định chị Đỗ Thị Ngọc T3 tại thời điểm giám định không có thai.
Tại bản Kết luận giám định ADN số 41/24/KLGĐADN-PYHN ngày 27/02/2024 đối với Lư Văn T1 của Trung tâm pháp y Sở Y1 kết luận:
Không thu được ADN của Đỗ Thị Ngọc T3 từ mẫu móng tay, lau rửa kẽ móng tay và lau rửa bộ phận sinh dục của Lư Văn T1 trên các locus STR đã phân tích.
Tại bản Kết luận giám định ADN số 43/24/KLGĐADN-PYHN ngày 29/02/2024 đối với chị Đỗ Thị Ngọc T3 của Trung tâm pháp y Sở Y1 kết luận:
- - Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người của vết đỏ trên áo gửi giám định bằng Hb Card: Dương tính.
- - Không thu được đầy đủ dữ liệu ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu lau rửa má môi của Đỗ Thị Ngọc T3 và 02 chiếc quần lót gửi giám định nên không so sánh được với ADN nhiễm sắc thể Y của Lư Văn T1 trên các locus Y-STR đã phân tích.
- - ADN nhiễm sắc thể Y thu được từ mẫu dịch âm đạo của Đỗ Thị Ngọc T3, chiếc áo và chiếc váy gửi giám định trùng với ADN nhiễm sắc thể Y của Lư Văn T1 trên các locus Y-STR đã so sánh.
- - ADN thu được từ vết màu đỏ trên chiếc áo gửi giám định có hiện diện ADN của Đỗ Thị Ngọc T3 và Lư Văn T1 trên các locus STR đã phân tích.
Công văn số 445/CV-TTPY ngày 27/6/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y1:
- * Đối với câu hỏi về Bản kết luận giám định ADN số 43/24/KLGĐADN-PYHN ngày 29/02/2024:
ADN nhiễm sắc thể Y là vật chất di truyền nằm trên nhiễm sắc thể Y đặc trưng cho nam giới.
Nhiễm sắc thể Y có mặt ở tất cả các tế bào có nhân của cơ thể nam giới như lông, tóc, móng, máu... Với phương pháp giám định đã sử dụng, không thể khẳng định ADN nhiễm sắc thể Y thu được có phải là của tinh trùng hay thuộc tế bào từ vị trí nào của cơ thể.
Với kết luận giám định: ADN nhiễm sắc thể Y thu được từ mẫu dịch âm đạo của chị Đỗ Thị Ngọc T3, chiếc áo và váy gửi giám định trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y của Lư Văn T1. Nghĩa là: Trong mẫu dịch âm đạo của chị T3 có các tế bào của anh T1, các tế bào đó có thể là tinh trùng, niêm mạc miệng, tế bào biểu mô từ ngón tay hoặc dương vật,...
- * Hàm lưỡi là đường nếp niêm mạc ở phía cuối của mặt dưới lưỡi, nối mặt dưới lưỡi đến sàn miệng. Vùng hàm lưỡi có vết trượt niêm mạc ở phần cuối mặt dưới lưỡi.
Tại bản Kết luận giám định số 4177/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của V3 Bộ C1 giám định âm thanh trong vụ án “Hiếp dâm” kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp tin âm thanh gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 4690/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K1 Bộ C1 kết luận:
- - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video (ký hiệu từ A1 đến A4, từ A7 đến A) gửi giám định.
- - Không xác định được các file video (ký hiệu A5, A6) có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh không, do tại nhiều thời điểm nội dung hình ảnh của các file video hiển thị không liên tục. Không xác định được nguyên nhân.
Tại bản Kết luận giám định số 4717/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K1 Bộ C1 kết luận:
Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video (ký hiệu A1, A) gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lư Văn T1 khai nhận: Tối ngày 05/02/2024, T1 tham gia liên hoan tất niên của công ty TNHH T8 tại nhà hàng V2 và trong lúc liên hoan có cầm túi xách, điện thoại của chị T3 nhằm mục đích trêu đùa. Sau khi ăn uống xong, khi đi đến bãi gửi xe của nhà hàng V2 thì T1 đã trả lại túi xách, điện thoại cho chị T3 còn chị T3 nhờ T1 chở chị T3 cùng đi về Công ty, T1 đồng ý để chị T3 điều khiển xe máy chở T1 ngồi sau đi về. Quá trình đi đường, T1 say rượu nên không nhớ có đổi lái hay không và không nhớ sự việc có mặt ở đoạn đường Đ, G, T1 không nhớ có hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn với chị T3 hay không. Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã tiến hành đối chất giữa bị cáo Lư Văn T1 và chị Đỗ Thị
Ngọc T3. Căn cứ lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định, đủ cơ sở kết luận Lư Văn T1 có hành vi hiếp dâm chị Đỗ Thị Ngọc T3.
Đối với anh Nguyễn Đình V1 cho T1 mượn xe nhưng không biết T1 sử dụng xe để chở chị T3 đi thực hiện hành vi hiếp dâm nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Đối với hành vi T1 cầm túi xách và điện thoại của T3 nhưng nhằm mục đích trêu đùa và để T3 phải đi theo T1, không có mục đích chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKSGL ngày 05/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đã truy tố Lư Văn T1 về tội "Hiếp dâm" theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP Hà Nội đã xử phạt bị cáo Lư Văn T1 30 tháng tù về tội "Hiếp dâm" theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị hại kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng đưa ra hình phạt thích đáng, đủ tính răn đe đối với hành vi phạm tội của bị cáo T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo. Xử phạt bị cáo Lư Văn T1 33 đến 36 tháng tù. Áp dụng điểm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không thành khẩn khai báo, số tiền bồi thường khắc phục hậu quả so với trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải thực hiện thấp nên không áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy phần bồi thường cấp sơ thẩm hợp lý không tăng bồi thường. Tăng mức hình phạt bị cáo.
- - Bị cáo T1 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt sớm trở về với gia đình.
- - Người bào chữa cho bị cáo T1 trình bày bào chữa cho bị cáo T1: Bản án cấp sơ thẩm tuyên có căn cứ là phù hợp, bồi thường có cơ sở, hình phạt nghiêm khắc. Đề nghị HĐXX xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm
- - Bị hại trình bày: Yêu cầu bồi thường thêm tổn thất tinh thần 20 tháng mức lương cơ sở và số lương không đi làm tính từ tháng 2 đến tháng 11 mỗi tháng 8 tr tiền lương.
- - Người bào chữa cho bị hại trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét tăng hình phạt, tăng trách nhiệm dân sự bồi thường cho bị hại bổ sung thêm tổn thất tinh thần 20 tháng mức lương cơ sở và số lương không đi làm tính từ tháng 2 đến tháng 11 mỗi tháng 8 tr tiền lương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1]. Về hình thức:
Đơn kháng cáo của bị hại nộp trong thời hạn luật định, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm nên kháng cáo của bị hại là hợp lệ về hình thức nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Về hành vi của các bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 05/2/2024, tại khu vực đê D thuộc thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, bị cáo Lư Văn T1 có hành vi dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, đe dọa nhằm thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn với chị Đỗ Thị Ngọc T3. Hành vi của bị cáo Lư Văn T1 đã phạm tội "Hiếp dâm" quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng cáo toàn bộ bản án của bị hại, HĐXX thấy:
Về hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo vệ do đó tòa án sơ thẩm áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là phù hợp. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Theo các tài liệu xác minh thể hiện trong hồ sơ thì tại Bản án số 19/2007/HSST ngày 20/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, Bắc Giang xử phạt Lư Văn T1 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 12 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng bị cáo T1 đã chấp hành xong về hình phạt, còn phần án phí qua xác minh thể hiện bị cáo chưa nộp được án phí là do chưa nhận được thông báo nộp án phí của cơ quan thi hành án, mặt khác Tòa án nhân dân huyện Yên Thế cũng chưa có căn cứ để chứng minh việc giao bản án cho Cơ quan thi hành án dân sự để thi hành, nên cơ quan thi hành án dân sự huyện Y cũng không có thông tin về việc thi hành án của bị cáo T1 vì vậy chưa có căn cứ để thu án phí đối với bị cáo T1.
Theo hướng dẫn tại Điều 7, mục I, Công văn số 64 ngày 03 tháng 4 năm 2019 như sau: “trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự”.
Như vậy, tòa án sơ thẩm xác định: Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên tòa án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp, nên mặc dù bị cáo không kháng cáo tuy nhiên HĐXX xét thấy cần sửa lại bản án sơ thẩm đối với nội dung này, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bồi thường cho bị hại, tuy nhiên số tiền khắc phục hậu quả so với trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải thực hiện là thấp nên tòa án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 BLHS đối với bị cáo là chưa phù hợp. HĐXX xem xét, chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị hại không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo có thêm tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. HĐXX thấy mặc dù tòa án sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo. Bị hại kháng cáo về hình phạt nên HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại và sửa bản án sơ thẩm về hình phạt và sửa về áp dụng pháp luật đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tòa án sơ thẩm đã căn cứ quy định tại Điều 590, 592 Bộ luật dân sự để xác định các khoản bồi thường thiệt hại như sau:
- - Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất, giảm sút: Chị T3 là nhân viên tại bộ phận hành chính của công ty TNHH T8 có mức lương thu nhập ổn định hằng tháng là 8.000.000 đồng. Thu nhập thực tế bị mất trong những trong những ngày không được đi làm (tạm tính từ tháng 02/2024 đến hết tháng 07/2024), tương ứng với mức lương 8.000.000 đồng/tháng của chị tại công ty TNHH T8 là 45.600.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng), cụ thể:
- + Tháng 02/2024, thu nhập thực tế trong 09 ngày làm việc là 2.400.000 đồng, thu nhập bị mất là 8.000.000 đồng - 2.400.000 đồng= 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng).
- + Từ tháng 03/2024 đến hết tháng 07/2024 (05 tháng), thu nhập bị mất là 8.000.000 đồng x 05 tháng = 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
- - Đối với yêu cầu bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo Lư Văn T1 phải bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho chị T3 tương ứng 30 lần mức lương cơ sở 2.340.000 đồng x 30 = 70.200.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng hai trăm nghìn đồng) là phù hợp.
Tòa án sơ thẩm xác định tổng số tiền bị cáo Lư Văn T1 phải bồi thường cho chị Đỗ Thị Ngọc T3 là 115.800.000 đồng là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án phúc thẩm xem xét lại hình phạt đối với bị cáo T1, về trách nhiệm dân sự, chị T3 không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác và không có ý kiến gì nên HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với phần trách nhiệm dân sự của bị cáo T1.
Từ những phân tích trên, HĐXX phúc thẩm xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, sửa một phần bản án sơ thẩm về áp dụng pháp luật.
Về án phí phúc thẩm: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại là chị Đỗ Thị Ngọc T3, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP Hà Nội về áp dụng pháp luật như sau:
- Tuyên bố: Bị cáo Lư Văn Trọng phạm T7 “Hiếp dâm”.
- Áp dụng pháp luật và hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lư Văn T1 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585 ; khoản 1, 2 Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/HĐTP-TATC ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất, giảm sút của chị Đỗ Thị Ngọc T3. Buộc bị cáo Lư Văn T1 phải bồi thường cho chị Đỗ Thị Ngọc T3 số tiền là 45.600.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng)
Chấp nhận yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần của chị Đỗ Thị Ngọc T3 Buộc bị cáo Lư Văn T1 phải bồi thường cho chị T3 số tiền tương ứng 30 lần mức lương cơ sở 2.340.000 đồng x 30 = 70.200.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng hai trăm nghìn đồng).
Tổng cộng bị cáo Lư Văn T1 phải bồi thường cho chị Đỗ Thị Ngọc T3 số tiền là: 115.800.000 đồng. Được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng bị cáo Lư Văn T1 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm theo biên lai số: 4020 ngày 20/9/2024, nhằm khắc phục một phần hậu quả, bồi thường cho bị hại nên bị cáo T1 còn phải nộp thêm số tiền 95.800.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho chị T3.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Về án phí phúc thẩm:
Bị hại là chị Đỗ Thị Ngọc T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Mạnh Cẩm Yến |
Bản án số 1115/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hiếp dâm
- Số bản án: 1115/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lư Văn Trọng - hiếp dâm
