Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1115/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-9-2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Quản
  2. Bà Lâm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 354/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 04 năm 2024 về Tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1156/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1442/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1978;

Thường trú: 500/62/61/31 đường N, khu phố D (cũ là tổ D, khu phố G), phường H, Quận A,Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977;

Thường trú: 500/62/61/31 đường N, khu phố D (cũ là tổ D, khu phố G), phường H, Quận A,Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 26/3/2024, bản tự khai ngày 09/5/2024, ngày 30/7/2024 cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn H tự tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ngày 05/5/1998. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, về quan điểm sống, hai bên không còn tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Bà và ông H đã nhiều lần tìm cách hòa giải để níu kéo gia đình nhưng vẫn không thể hòa giải mâu thuẫn để đoàn tụ. Thời gian trước ông H đi làm xa, nhưng nay ông H đã trở về, hiện nay bà và ông H tuy vẫn sống chung nhà nhưng đã ly thân, ai nấy đều có cuộc sống riêng không can dự vào cuộc sống của nhau, ông H đi làm sáng đi tối về và cả hai không trò chuyện gì với nhau. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: có 02 con chung tên:

  • Nguyễn Văn H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 29/11/1998 (đã trưởng thành);
  • Nguyễn Thiện L1 – Giới tính nam, sinh ngày: 14/11/2005 (đã trưởng thành);

Hai con chung đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà L không có yêu cầu nào khác.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về ly hôn mà bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 07, do Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 05/5/1998 là cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Qua lời khai của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H có xảy ra mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không hòa hợp và không có cách hàn gắn.

[3.1.1] Bị đơn ông Nguyễn Văn H được niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vẫn không đến tòa để trình bày ý kiến giải quyết mâu thuẫn trong hôn nhân hoặc nguyện vọng được hòa giải đoàn tụ. Đồng thời, việc ông H không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.

[3.1.2] Do ông H không đến tòa, nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét và mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà bà L xuất trình. Theo lời trình bày của bà L thì hai bên phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, hiện nay bà L và ông H tuy còn sống chung nhà nhưng nhưng đã ly thân, ai nấy đều có cuộc sống riêng không can dự vào cuộc sống của nhau, ông H đi làm sáng đi tối về và cả hai không trò chuyện gì với nhau.

Do vậy, lời trình bày của bà L là cơ sở xác định mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của bà L và ông H là có thật, thời gian ly thân của hai bên cũng đã lâu mà ông H bỏ mặc mâu thuẫn, không đến tòa để hòa giải cùng bà L tìm ra cách hàn gắn, duy trì hôn nhân.

Từ các phân tích nêu trên, có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của bà L và ông H không còn tình cảm để duy trì đời sống chung, không thỏa theo nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình thì: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, do quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Đồng thời, vợ chồng còn có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

[3.2] Về con chung: Có 02 con chung tên:

  • Nguyễn Văn H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 29/11/1998 (đã trưởng thành);
  • Nguyễn Thiện L1 – Giới tính nam, sinh ngày: 14/11/2005 (đã trưởng thành).

[3.3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 cho rằng đời sống hôn nhân giữa bà L và ông H mâu thuẫn trầm trọng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L.

[3.4] Ngoài ra, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản do bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và đã nộp xong theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0022137 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 269, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 2, 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
    1. Về quan hệ hôn nhân:
    2. Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

      Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 07, do Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 05/5/1998 không còn hiệu lực.

    3. Về con chung:
    4. Có 02 (hai) con chung tên:

      • Nguyễn Văn H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 29/11/1998 (đã trưởng thành);
      • Nguyễn Thiện L1 – Giới tính nam, sinh ngày: 14/11/2005 (đã trưởng thành).
    5. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    6. Nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  3. Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và đã nộp xong theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0022137 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

  6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - UBND thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Tuyết Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1115/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 1115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger