|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1114/2023/HS-PT Ngày 29 - 12 - 2023. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Đinh Quốc Trí |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Mai Văn Quang Ông Phạm Năng Thành. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 861/2023/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T, do có kháng cáo của hai bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 146/2023/HSST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: không nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Ngọc Q và bà Trần Thị H; vợ Đặng Thị N; có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân:
- Tại Bản án số: 09/2007/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2007 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Trộm cắp tài sản.
- Tại Bản án số: 03/2022/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt 08 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bản án hình sự phúc thẩm số: 55/2022/HS-PT ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Tòa án tỉnh Phú Thọ xử phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm).
- Tại Bản án số: 66/2022/HS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với 08 năm của Bản án số: 03/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 năm tù (Bản án số 536/2023/HS-PT ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án số 66/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ).
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại Giam Y, tỉnh Sơn La; có mặt.
2. Đỗ Hữu T, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khu F, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: không nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Đỗ Đăng K và bà Trần Thị Đ; vợ Bùi Thị L; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Bản án số: 110/2019/HS-PT ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 40.000.000 đồng và phải nộp 22.900.000 đồng sung quỹ nhà nước (chưa xóa án tích); tiền sự: không. Nhân thân:
- Tại Bản án số: 66/2022/HS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2021. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc; có mặt.
Ngoài ra, trong bản án còn có 02 bị cáo khác; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11 năm 2020, do cần tiền tiêu xài, Lê Anh T1, Đỗ Hữu T bàn bạc về việc đi thuê xe ô tô sau đó bán lấy tiền để tiêu xài. Ngày 19/11/2020, sau khi gặp nhau T1, T cùng Nguyễn Ngọc S bàn bạc lên khu vực trước Sân Vận động Q1, quận N, Hà Nội để thuê xe ô tô. Sau đó, T1 gọi điện cho Hồ Tiến Đ1 mang giấy phép lái xe ô tô của Đ1 để đi thuê xe cùng. Khi T1, Đ1, T, S cùng nhau đi đến khu vực Sân vận động Q1 gặp anh Hoàng Ngọc L1 thỏa thuận về việc thuê xe ô tô của anh L1. Tại đây, T và S ngồi đợi tại quán nước, còn T1 và Đ1 trực tiếp đi giao dịch.
Sau khi thỏa thuận, tại khu vực đối diện trước cổng sân vận động Q1, phường M, quận N, Hà Nội, anh Hoàng Ngọc L1, Nguyễn Văn H1 ký kết hợp đồng cho thuê chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 với Lê Anh T1 trong thời hạn từ ngày 19/11/2020 đến ngày 21/11/2020 với giá 900.000 đồng/ngày/200km. T1 trực tiếp viết thông tin và ký vào hợp đồng thuê xe; T1 đưa cho anh L1 chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu để anh L1 chụp ảnh lại.
Khi anh L1 yêu cầu thuê xe thì phải có người được cấp bằng lái xe ô tô thì Hồ Tiến Đ1 lấy giấy phép lái xe của Đ1 cho anh L1 kiểm tra và chụp lại. Quá trình giao dịch có anh Nguyễn Văn H1 và Hồ Tiến Đ1 chứng kiến. Sau đó, anh L1 giao chìa khóa cùng xe, giấy đăng kiểm, bảo hiểm xe cho T1.
Sau khi nhận xe ô tô trên, T1, T, S, Đ1 mang chiếc xe trên đến cửa hàng cầm đồ của anh Trần Hữu T2 ở T, T, Hà Nội để cầm cố chiếc xe.
Tại đây, T1 và Đ1 đi ra quán nước còn S và T bàn bạc với anh T2 về việc cầm cố chiếc xe ô tô trên. Anh T2 đồng ý cầm chiếc xe ô tô với số tiền 110.000.000 đồng trong vòng 10 ngày với tiền lãi là 5.000.000 đồng. Sau đó, anh T2 chuyển số tiền 110.000.000 đồng cho nhóm của T1. S chia cho T1 số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền còn lại S và Tư giữ.
Ngày 20/11/2020, T1 lên mạng tìm người cần mua xe để bán chiếc xe ô tô Innova trên. Lúc này, có người đồng ý mua xe nên T1 bảo S gọi điện cho anh T2 bảo lấy chiếc xe ô tô đi bán. Anh T2 đồng ý và cả nhóm T1, S, T, Đ1 đi đến khu vực để xe ở đường T, xã T, T, Hà Nội. Tại đây, để bán được xe T1, S, T đã bàn bạc viết giả mạo giấy bán xe của anh L1 cho T1. T đưa giấy cho S và S là người trực tiếp viết giấy với nội dung anh Hoàng Ngọc L1 bán xe ô tô Inova BKS: 30H-6768 cho Lê Anh T1. S viết và ký phần người bán là anh Hoàng Ngọc L1. Sau đó, S đưa lại cho T1 để bán xe. S và T ngồi đợi ở quán nước còn T1 cùng anh T2, Đ1 trực tiếp gặp và giao dịch với người mua xe là anh Lê Văn N1 và Nguyễn Hữu K1 thỏa thuận mua bán xe ô tô. Sau khi thỏa thuận được về giá bán xe là 195.000.000 đồng thì T1 viết giấy bán xe cho anh N1 (lúc này T2, Đ1 cùng anh N1, K1 chứng kiến). T1 đưa cho anh N1 giấy bán xe của anh Hoàng Ngọc L1 cho T1 (giấy bán xe giả do S viết ra), sổ hộ khẩu và thẻ căn cước của T1 cho anh N1, K1 kiểm tra và anh N1 đã chuyển số tiền 190.000.000 đồng vào tài khoản của T2, giữ lại 5.000.000 đồng tiền cọc. Sau khi nhận tiền, T1 bàn giao xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 cho anh N1; T2 chuyển khoản số tiền 33.000.000 đồng vào số tài khoản 26010001077835 BIDV của T1 và 15.000.000 đồng đến tài khoản của S, chuyển 27.000.000 đồng tiền mặt cho S, số tiền còn lại 115.000.000 đồng T2 cầm (gồm 110.000.000 đồng tiền cầm cố xe và 5.000.000 đồng tiền lãi cầm cố). Sau khi nhận tiền T1 và Đ1 bắt taxi đi về khu vực Cổng bệnh viện T4, T1 đưa cho Đ1 số tiền 500.000 đồng, số tiền còn lại T1 đã tiêu xài cá nhân và bỏ trốn khỏi địa phương.
Sau khi mua được xe ô tô, ngày 21/11/2020, anh N1 cùng anh K1 đã bán lại chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 cho anh Nguyễn Trọng T3 với giá 233.000.000 đồng. Anh Thư bán lại xe cho anh Nguyễn Văn C. Anh C nhờ anh Trần Ngọc B bán hộ chiếc xe trên với giá 260.000.000 đồng. Anh B bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 260.000.000 đồng. Đến 17 giờ ngày 23/11/2020, anh B gọi điện thông báo cho anh C biết chiếc xe đã bị chính chủ là anh Hoàng Ngọc L1 lấy về nên yêu cầu anh C trả lại tiền, sau đó anh B trả lại tiền cho người đàn ông trên. Anh N1 và anh K1 đã trả lại tiền cho anh T3 và đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Đến khi trình báo sự việc, anh N1 và anh K1 bị Lê Anh T1 chiếm đoạt số tiền 190.000.000 đồng. Những người mua và bán lại chiếc xe trên đã được nhận lại số tiền giao dịch mua bán xe.
Ngày 20/12/2021, Lê Anh T1 bị bắt theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra, Lê Anh T1 thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T1 chỉ các vị trí thuê xe, cầm cố xe và bán xe ô tô. T1 nhận dạng được người cho thuê xe, cầm cố và người mua xe. Nhận dạng được các đối tượng cùng T1 lừa đảo chiếm đoạt tài sản là Đ1, T, S.
Tại Cơ quan điều tra, anh Lê Văn N1, Nguyễn Hữu K1, anh Hoàng Ngọc L1, anh Nguyễn Văn H1, Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc B trình bày phù hợp với nội dung như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 hợp đồng cho thuê xe ô tô giữa anh Hoàng Ngọc L1 và Lê Anh T1; 01 giấy bán xe giữa anh Hoàng Ngọc L1 và Lê Anh T1; 01 hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Lê Anh T1 và anh Lê Văn N1.
Ngày 30/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768. Tại Kết luận định giá tài sản số 30 ngày 27/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 có giá trị 87.605.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký của người mang tên Hoàng Ngọc L1 trên giấy mua bán xe với Lê Anh T1. Chữ ký, chữ viết, vân tay của Lê Anh T1 trên các giấy tờ giao dịch thuê xe, mua bán xe.
Tại kết luận giám định số 1570 ngày 23/02/2021 của Phòng K2 kết luận: “Chữ viết phần nội dung, chữ ký dưới dạng chữ viết L1, chữ viết dòng họ tên Hoàng Ngọc L1 (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định với chữ viết đứng tên Hoàng Ngọc L1 trên các mẫu so sánh không phải chữ do cùng một người viết.".
Tại kết luận giám định số 4601/KL-PC09-DD3 ngày 11/6/2021 của Phòng K2 kết luận:
- “- Dấu in đường vân tay nằm ở mặt sau, dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B”, bên trái dòng chữ Lê Anh T1 trên Hợp đồng thuê ô tô – xe máy ngày 19/11/2020 tại S1; Đại diện bên A (Bên cho thuê xe): Nguyễn Văn H1, địa chỉ: thôn K - Hồ N - Y - Vĩnh Phúc; Đại diện bên B (Bên thuê xe): Lê Anh T1, sinh năm: 1994, địa chỉ: số C tổ A – cụm 1 – X - T - Hà Nội gửi giám định và dấu in đường vân tay ngón trỏ trái trên Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân họ tên Lê Anh T1 (Sinh năm: 1994, nơi thường trú: tổ A cụm 1 - X - T - Hà Nội) gửi làm mẫu so sánh là của cùng một người.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký tại Giấy bán xe đề tên Lê Văn N1 và Lê Anh T1. Tại Kết luật giám định số 1924/KL-KTHS ngày 29/3/2022 của Phòng K2 kết luận: “Chữ viết phần nội dung và chữ ký dưới dạng viết “T1”, chữ viết dòng họ tên Lê Anh T1 dưới mục “Bên bán” trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các mẫu so sánh ký kiệu từ M1 đến M3 là do cùng một người viết ra”.
Kết luận giám định số 2318/KL-KTHS ngày 12/4/2022 của Phòng K2 kết luận: “Chữ viết phần nội dung và chữ ký dạng chữ viết “lương”, chữ viết dòng họ tên Hoàng Ngọc L1 dưới mục “BÊN BÁN” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với chữ viết đứng tên Nguyễn Ngọc S trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết ra”.
Xác minh, sao kê tại ngân hàng T5 và V1 thể hiện có giao dịch chuyển tiền 190.000.000 đồng từ tài khoản 19032226979999 tại ngân hàng T5 của anh Nguyễn Hữu K1 đến tài khoản số 00815928001 tại ngân hàng V1 của anh Trần Hữu T2.
Quá trình điều tra, Lê Anh T1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên và phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Đỗ Hữu T và Nguyễn Ngọc S không khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đối với Lê Bá H2, trong một số lời khai ban đầu của Lê Anh T1 thể hiện bàn bạc với H2, S, T thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768, quá trình điều tra xác định H2 không tham gia, không hưởng lợi cùng các T1, S, T khi chiếm đoạt chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768. Đối với hành vi H2 cùng T, T1, S chiếm đoạt chiếc xe ô tô Kia Morning BKS: 19A-243.33 hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T điều tra, xác minh nên Cơ quan điều tra không điều tra xử lý.
Đối với anh Trần Hữu T2, quá trình điều tra xác định anh T2 nhận cầm cố chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 từ T1, S, T và chứng kiến việc T1 chiếc xe ô tô này cho anh N1; do khi T1 bán xe thì T1 đưa cho anh T2 xe giấy bán xe của anh Hoàng Ngọc L1 cho T1 nên anh T2 không biết chiếc xe ô tô trên do T1, S, T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với hành vi nhận cầm cố xe không chính chủ của Trần Hữu T2 và vợ là Nguyễn Thùy C1, do hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Quá trình điều tra, anh Trần Hữu T2 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 5.000.000 đồng (là số tiền lãi anh T2 lấy của nhóm T1 khi nhận cầm cố xe) và Hồ Tiến Đ1 tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng (tương ứng số tiền T1 cho Đ1 sau khi bán chiếc xe ô tô Innova). Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Văn N1 số tiền nêu trên.
Về dân sự: Anh Lê Văn N1 yêu cầu T1, S, T phải bồi thường số tiền 184.500.000 đồng tương ứng với số tiền các đối tượng chiếm đoạt của anh N1. Đối với anh Hoàng Ngọc L1, do anh L1 đã thu hồi được chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 nên anh L1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự.
Tại Cáo trạng số 175/CT - VKS-TT ngày 14/10/2022 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Lê Anh T1, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T và Hồ Tiến Đ1 về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 - BLHS.
Tại bản án số: 146/2023/HSST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T mỗi bị cáo 04 năm 06 tháng tù và tổng hợp hình phạt của bản án đã có hiệu lực đối với mỗi bị cáo. Bản án còn quyết định hình phạt của các bị cáo khác; xử lý vật chứng; án phí.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên kháng cáo và không khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của các bị cáo, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T, giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T. Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Đỗ Hữu T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù, bị cáo S, T đều không thừa nhận hành vi tham gia cùng T1, Đ1 lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo Lê Anh T1, Hồ Tiến Đ1, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân Lê Anh T1, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T lên kế hoạch thuê xe ô tô tự lái rồi đem cầm cố. Ngày 19/11/2020, tại khu vực trước cổng sân vận động Q1, quận N, Lê Anh T1, cùng Nguyễn Ngọc S, Đỗ Hữu T và Hồ Tiến Đ1 đã thuê xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 có giá trị 87.605.000 đồng của anh Hoàng Ngọc L1. Ngay sau khi nhận xe, T1 cùng S, T, Đ1 mang xe ô tô đến xã T cầm cố cho anh Trần Hữu T2 lấy số tiền 110.000.000 đồng. Đến ngày 20/11/2020, tại đường T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Ngọc S đã gian dối, giả mạo giấy bán xe của anh L1 cho T1 rồi cả nhóm mang chiếc xe ô tô Innova BKS: 30H-6768 bán cho anh Lê Văn N1 để chiếm đoạt số tiền 190.000.000 đồng. Bị cáo Hồ Tiến Đ1 tuy không tham gia bàn bạc với bị cáo khác trong việc thuê xe của anh L1 rồi đem đi cầm cố, nhưng bị cáo Đ1 sử dụng giấy phép lái xe giúp sức cho T1 thuê xe của anh L1, tham gia ký giấy bán xe của T1 cho anh N1 mặc dù biết chiếc xe không phải của T1. Do vậy, tòa án cấp sơ thẩm quy kết Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T.
Xét thấy, ngày 19/11/2020 các bị cáo thuê xe ô tô Innova, BSK: 30H - 6768 của anh Hoàng Ngọc L1 sau đó cầm cố cho anh Trần Hữu T2 lấy 110.000.000 đồng. Sau đó, các bị cáo lên mạng internet tìm khách mua xe ô tô để bán chiếc xe trên và thực tế ngày 20/11/2020 các bị cáo làm giả giấy bán xe từ anh L1 sang cho bị cáo T1 trên cơ sở đó các bị cáo lại bán chính chiếc xe trên cho anh N1 với giá 190.000.000 đồng. Như vậy, các bị cáo đã phạm tội 02 lần và tổng số tiền các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là giá trị của chiếc xe theo định giá là 87.605.000 đồng và số tiền 190.000.000 đồng là tiền các bị cáo lừa bán xe cho anh N1. Do đó, tổng số tiền các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 277.605.000 đồng. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì đáng lẽ cấp sơ thẩm phải truy tố, xét xử các bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự mới đúng. Việc cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S, T; không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T là sai lầm trong áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, để giữ ổn định bản án sơ thẩm, không gây bất lợi cho người kháng cáo và cũng xét, mức hình phạt của bản án sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là đã tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử giữ nguyên điều khoản và mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 146/2023/HSST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố: Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc S: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) năm tù của Bản án số: 536/2023/HS-PT ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 19 (mười chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2021.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Hữu T: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) năm tù của Bản án số: 66/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2021.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Ngọc S và Đỗ Hữu T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐINH QUỐC TRÍ |
Bản án số 1114/2023/HS-PT ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 1114/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
